Skip to content
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • World
  • Users
  • Groups
Skins
  • Light
  • Cerulean
  • Cosmo
  • Flatly
  • Journal
  • Litera
  • Lumen
  • Lux
  • Materia
  • Minty
  • Morph
  • Pulse
  • Sandstone
  • Simplex
  • Sketchy
  • Spacelab
  • United
  • Yeti
  • Zephyr
  • Dark
  • Cyborg
  • Darkly
  • Quartz
  • Slate
  • Solar
  • Superhero
  • Vapor

  • Default (No Skin)
  • No Skin
Collapse

NodeBB

THANHTAMT

THANHTAM

@THANHTAM
Advisor
About
Posts
109
Topics
107
Shares
0
Groups
1
Followers
0
Following
0

Posts

Recent Best Controversial

  • Can Ất - Thái Âm hóa Kỵ
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Ất - Thái Âm hóa Kỵ

    Thái Âm hóa Kị, ý nghĩa phổ biến nhất là bất lợi đối với người thân phái nữ, nhất là ở cung vị lạc hãm thì càng đúng.

    Nói "bất lợi" ở đây, không nhất định là bệnh tật hay tử vong, có lúc chỉ biểu hiện là thiếu duyên phận với nhau, hai bên khó thông cảm cho nhau, hoặc vì hoàn cảnh khách quan mà hai bên ít có cơ hội gặp nhau. Cần phải xem xét kỹ các sao Sát – Hình – Kị hội hợp thực tế mà định.

    Gặp Thái Âm hóa Kị, cũng biểu trưng cho tình huống rắc rối về tình cảm, thường chủ về trong lòng có ẩn tình khó sử. Nếu gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, Văn xương, Văn khúc, thì đây là điềm tượng tình yêu không bình thường, nam mệnh phần nhiều chủ về có khuynh hướng "đồng tính luyến ái".

    Thái Âm hóa Kị ở cung miếu vượng, thì ảnh hưởng đến tình hình lợi lộc, thường thường biểu hiện là trong đời người có một thời kỳ cảm thấy mình rất có tài mà không gặp thời. Nếu Thái âm hóa Kị ở cung lạc hãm, thì đây là điềm tượng không tốt; trái lại, sẽ ưa gặp Sát tinh "kích thích", chủ về có thể theo ngành công nghệ. Cổ nhân gọi là "thợ", nhưng ở thời hiện đại, cũng chủ về những ngành khoa học kỹ thuật.

    Thái Âm hóa thành sao Kị ở cung Tý, đồng độ với Thiên Đồng. Đối với nữ mệnh thì rất ưa trang điểm, chải chuốt, làm đẹp, nhưng tính cách điệu nghệ thuật không cao, thường dễ bị người ta phê bình cách thức trang điểm của bản thân đương số.

    Đối với nam mệnh thì có nội tài, dễ được người khác giới để mắt, nhưng lại thiếu duyên phận. Về hôn nhân, nam mệnh và nữ mệnh đều nên nhờ người giới thiệu, và nên kết hôn muộn, nếu không sẽ chủ về duyên phận không đủ.

    Khi gặp hoặc Văn xương, hoặc Văn khúc, thì thường là văn sỹ nghèo nàn, thất chí, nhưng cũng có chút thanh danh.

    Về sức khỏe phần nhiều chủ về bệnh ở mắt, như bệnh nốt ruồi bay, nếu có thêm các sao Sát Hình nặng, thì có thể bị mù.

    Thái Âm hóa Kị ở cung Sửu, là Thái âm và Thái dương đồng cung. Vì Thái Âm hóa Kị nên gây lụy cho Thái Dương, khiến tăng thêm vất vả khổ lụy, và không có duyên với cha mẹ.

    Cuộc đời và sự nghiệp có tính lưu động khá lớn, dễ thay đổi nghề, mà nghề thường thường cũng là loại "lao tâm tổn thần", cũng chủ về có lúc cuộc sống dễ chịu thì lại không có tinh thần làm việc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp.

    Thái Âm hóa Kị ở cung Dần, là "Thiên cơ Thái âm" đồng độ với Đà la, Thiên cơ đồng thời hóa Lộc. Nếu gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, thì tình hình tiền bạc trong tương lai khá nghiêm trọng. Tham khảo thêm ở đoạn thuật "Thiên cơ hóa Lộc".

    Thái Âm hóa Kị ở cung Mão, khá bất lợi về hôn nhân, tình hình dễ xuất hiện nhất là vợ chồng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, nhất là đối với nữ mệnh, nên kết hôn muộn. Nam mệnh thì phần nhiều sự nghiệp chìm nổi thất thường, chỉ thích hợp làm công hưởng lương, không thích hợp tự kinh doanh làm ăn, tự kinh doanh làm ăn sẽ dễ xảy ra trắc trở và thất bại.

    Thái Âm rất ngại hóa Kị ở cung Thìn, hội Sát tinh, cần phải rời xa quê hương để phát triển, nếu ở bản địa sẽ gặp nhiều áp lực. Nếu có các sao Sát – Hình đồng độ, thì có lợi khi rời xa quê hương có thể làm những ngành nghê thủ công để mưu sinh, ở thời hiện đại có thể làm những nghề về khoa học kỹ thuật. Nam mệnh và nữ mệnh, hôn nhân đều bất lợi, nên kết hôn muộn.

    Thái Âm hóa Kị ở cung Tị, cũng nên chủ động rời khỏi quê hương để phát triển. Cung Di là Thiên cơ hóa Lộc hội Thiên mã, là cách "Lộc Mã giao trì", nếu xuất ngoại ắt sẽ sáng sủa phát đạt.

    Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, an Mệnh tại cung Tị này đều bất lợi đối với người thân phái nữ. Cho nên nam mệnh hôn nhân không tốt đẹp, thường thường phải tái hôn mới sống đến bạc đầu.

    Tinh hệ "Thái âm Thiên đồng" đồng độ ở cung Ngọ, mà Thái Âm hóa Kị, cần phải xem xét tình hình của tinh hệ hội hợp mà định. Nếu có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ, sẽ chủ về rời xa quê hương, hoặc chủ về "song trùng phụ mẫu".

    Thái Âm hóa thành sao Kị ở bản cung, thường thường bị ảnh hưởng về sự nghiệp, chủ về có biên độ lên xuống thất thường rất lớn, vì vậy nên làm những công việc có tính thiết thực, cũng chủ về có khuynh hướng "đồng tính luyến ái" như Thái Âm hóa Kị ở cung Tý.

    "Thái Âm đồng cung với Thái Dương" ở cung Mùi, mà Thái Âm hóa Kị, còn Thái dương cũng bắt đầu ngả về chiều, cho nên bất lợi đối với cha mẹ, bất lợi nhất là người thân phái nữ. Nếu Sát tinh quá nặng, cũng chủ về Mẹ sống cảnh góa bụa.

    Người có tinh hệ này thủ Mệnh, bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, thường thường đều có tính bên ngoài thì "cương" mà bên trong thì "nhu", cho nên phần nhiều đều gặp trắc trở về sự nghiệp và tình cảm (ngược lại: ngoại nhu nội cương?).

    "Thái âm Thiên cơ" đồng độ ở cung Thân, mà Thái Âm hóa Kị, cũng có tình hình "cọp mà ăn thức ăn của mèo". Tham khảo thêm ở đoạn thuật "Thiên Cơ hóa Lộc".

    Thái Âm hóa Kị ở cung Dậu, nữ mệnh rất bất lợi về tình cảm, thường chủ về làm "nhị phòng" hay "kế thất", nếu không khó có thể sống với nhau đến bạc đầu. Đối với nam mệnh chủ về lang bạt tha hương rồi mới tay trắng làm nên, nhưng vẫn chủ về "danh" lớn hơn "lợi", mức độ thu nhập tăng theo địa vị xã hội, và không thích hợp tự kinh doanh làm ăn. Dễ được phái nữ yêu thích, nên cũng gặp nhiều rắc rối khó xử về tình cảm, do vậy lãng phí rất nhiều thời gian của đời người.

    Thái Âm hóa Kị ở cung Tuất, không có ảnh hưởng xấu, Thái Dương ở Thìn đối cung là ánh sáng đang hiển lộ, Thái Âm đối nhau ở xa xa, là cách ưu mỹ. Nên Thái Âm hóa Kị chỉ chủ về thiếu phúc ấm của cha mẹ, nhưng lại biểu trưng cho "tay trắng làm nên".

    Thái Âm rất ưa hóa Kị ở cung Hợi, là "biến cảnh". Thái Âm lúc này tỏa sáng, khi Hóa Kị chỉ chủ về đời người phải trải qua một giai đoạn đau khổ, nhờ vào đó mà thành tựu được sự nghiệp.

    Nhưng "tam phương tứ chính" có các sao hội hợp phần nhiều có tính "lưu động", cho nên bất kể là nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về dễ gặp rắc rối khó xử về tình cảm, thường vì có khuynh hướng yêu đương lãng mạn (nên gia đình khó tránh khỏi sứt mẻ hay đổ vỡ).

    -ST-

    Kiến thức Tử vi

  • Can Ất - Tử Vi hóa Khoa
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Ất - Tử Vi hóa Khoa

    Hóa Khoa, chủ về khoa cử công danh, thanh danh, mức độ nổi tiếng, và quý nhân, trợ lực; còn Tử Vi vốn là sao tôn quý, cho nên Tử Vi Hóa Khoa rất vẻ vang, rất có thể diện, thanh danh vang dội, danh tiếng truyền đi khắp nơi, đến đâu cũng được người ta chào đón, sự nghiệp mở rộng suôn sẻ trôi chảy; niên vận gặp nó nếu làm công nhân viên chức sẽ dễ thăng tiến.

    Hóa Khoa còn chủ về đa tài đa nghệ, còn Tử Vi thì ở địa vị tôn quý trên cao, cho nên lúc Tử Vi Hóa Khoa là chủ về tài nghệ xuất chúng, bản lãnh trùm mọi người, có biểu hiện rất đặc thù, nhận được tiếng vỗ tay khen ngợi nhiều nhất; còn chủ về có chân tài thực học, có thực tài tự nhiên có danh tiếng, tuyệt chẳng phải hư danh do may mắn mà có. Tử Vi Hóa Khoa nên phát triển trong giới văn nghệ và giới học thuật, có điều kiện để bộc lộ tài năng vượt trội, thậm chí tỏa sáng, tạo nên quyền uy, trở thành có kiến giải độc đáo và có biểu hiện đặc biệt, còn có tiếng tăm của một học giả chuyên gia. Tử Vi Hóa Khoa được phát huy đầy đủ những điều tốt nhất có trong Hóa Khoa, còn thu được khá nhiều lợi ích, do đó đầy tài năng, nói chuyện có cân nhắc, chịu trách nhiệm, được mọi người tán thưởng yêu thích và ủng hộ.

    Tử Vi có tính ưa thể diện, đáng tiếc thiếu chủ kiến, dễ tin, dễ bị người khác kích động, hiếu thắng, tự đại, ích kỷ, không nghĩ đến người khác, thiên vị, trong lòng có tâm lý cực đoan, quá khích “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng”, nhưng Tử Vi Hóa Khoa lại chủ về rất có tiếng tăm, không cô độc, tính khí và phong độ đều cực tốt.

    Như bạn đọc đã biết, Tử Vi là đế tinh, cho nên thích Hóa Khoa, càng thích được Phủ Tướng cùng chầu, hoặc “Bách quan triều củng”, là chủ về được lòng người hướng về. Nhưng nếu không có Phủ Tướng và cát tinh hội chiếu thì trái lại, thấy thêm tứ sát tinh, các sao hình hao hội hợp, hoặc các sao đào hoa đồng cung và ở đối cung, thì dù Hóa Khoa vẫn không chủ về danh dự.

    Hễ Tử Vi Hóa Khoa, ắt Thái Âm Hóa Kị, người sinh vào ban đêm thì Thái Âm nhập miếu, tính tình còn được, người sinh vào ban ngày thì Thái Âm lạc hãm, cung sở tại của Thái Âm thường trở thành khuyết điểm của đời người. Kết cấu tốt đẹp duy nhất của người sinh vào ban ngày là Tử Vi ở Ngọ, Thái Âm Hóa Kị ở cung Nô Bộc, là chủ về có cấp dưới hay thuộc hạ đắc lực, còn nên dùng phái nữ.

    Tử Vi Hóa Khoa chủ về khoan dung độ lượng, nhưng do tình trạng yêu ghét theo ý mình nên dễ biến thành chủ quan, làm giảm đi hình tượng khoan dung độ lượng. Tử Vi thêm vào Hóa Khoa là dễ chuốc đố kị, ganh gét, cho nên càng dễ bị cô lập. Chỉ người được “Bách quan triều củng” mới làm giảm bớt khuyết điểm này. Vì vậy, nếu Tử Vi Hóa Khoa gặp các sao sát hình trùng trùng, ở niên vận xấu, thường sẽ có cảm giác mình có tài mà không gặp thời, ở niên vận tốt, đố kị thị phi tất sẽ đến theo danh dự. Cho nên có lúc cuộc đời của Tử Vi Hóa Khoa ít phúc trạch hơn so với trường hợp Tử Vi không Hóa Khoa, vì không Hóa Khoa sẽ dễ thỏa mãn và đời người cũng ít sóng gió trắc trở hơn.

    Nhưng bất kể tính chất như thế nào, nếu Tử Vi Hóa Khoa thủ cung Mệnh, đều chủ về học rộng nhiều tài, có hứng thú với nhiều thứ. Thấy thêm các sao Văn Xương và Văn khúc, Long Trì và Phượng Các, Thiên Tài đồng cung hay hội chiếu, đặc biệt chủ về tài nghệ xuất chúng, được hưởng danh tiếng trong một nghề một nghiệp. Song, hễ Tử Vi ở cung Mệnh, thì cung Nô Bộc phần lớn đều không cát, nhất là Tử Vi Hóa Khoa ở cung Tí, Thái Âm tất sẽ Hoa Kị thủ cung Nô Bộc ở Tỵ, là chủ về thuộc hạ hay thuộc cấp không đắc lực, thậm chí còn bị bạn bè, thuộc hạ hay thuộc cấp làm liên lụy.

    Các sao ở cung Nô Bộc ảnh hưởng đến cung Huynh Đệ, vì vậy thường cũng không nên hợp tác với người khác, cần xem kỹ các sao của hai cung này mà luận đoán.

    Thông thường Tử Vi ở các cung lục thân đều thích Hóa Khoa. Ví dụ Tử Vi Hóa Khoa ở cung Huynh Đệ, là chủ về lúc hoạn nạn nguy cấp có anh em hoặc bạn tri kỷ giúp đỡ. Lại ví dụ, Tử Vi Hóa Khoa ở cung Phụ Mẫu, tuy cha mẹ chủ quan, hay chi phối hành động của con cái, nhưng thực ra lại hết lòng che chở cho con cái. Tử Vi Hóa Khoa ở cung Phu Thê, thường chủ về tuổi tác của vợ chồng chênh lệch hơi nhiều, hoặc người phối ngẫu hiếu thắng nhưng lại khó nói lời chia tay, chỉ cần hơi nhường nhịn thì liền hòa hợp.

    -ST-

    Kiến thức Tử vi

  • CAN ẤT - THIÊN LƯƠNG HÓA QUYỀN
    THANHTAMT THANHTAM

    CAN ẤT - THIÊN LƯƠNG HÓA QUYỀN

    Thiên Lương tính chất có sang quý thanh cao, khi Hóa Lộc sẽ hình thành sự mâu thuẫn về bản chất, nhưng Hóa Quyền thì không có ảnh hưởng, trái lại còn làm mạnh thêm mức độ sang quý thanh cao.

    Ví dụ như thiên Lương đủ sức đảm nhiệm chức vụ quản đốc, giám đốc quản lý công tác, nếu hóa Quyền thì có thể có địa vị của một chuyên viên như chuyên viên kiểm toán, chuyên viên khảo sát, cho đến luật sư,.v.v…

    Thiên Lương hóa Quyền mà có nhiều sao phụ tá hội chiếu hoặc đồng độ, không những là tượng trưng cho quyền lực, mà còn tượng trưng cho địa vị. “Địa vị” nói ở đây không phải nói về “địa vị” do sự giầu có (xã hội ngày nay có phong khí xem trọng “phú” mà không xem trọng “quý”, do đó mới xảy ra hiện tượng phân biệt như vậy), mà là nói “địa vị” của người được tôn trọng, được tôn sùng. Ví dụ như giáo sư, nhà văn, nhà nghiên cứu học thuật, hoặc các chuyên viên cao cấp được xem trọng trong các lĩnh vực,.v.v…

    Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp Thiên Lương hóa Quyền, thì không mang ý nghĩa đã thuật ở trên. Bởi vì không chỉ ở trong một đại hạn hoặc một lưu niên, mà bỗng nhiên trở thành một giáo sư, một chuyên viên cao cấp,.v.v… nhưng vẫn chủ về uy tín trong một lĩnh vực nào đó. Ví dụ như một thương nhân, đại hạn gặp Thiên Lương hóa Quyền, có thể trong 10 năm đó sẽ làm cho thương hiệu của mệnh tạo có tiếng tăm hơn. Ở lưu niên cũng chủ về đây là năm có thanh danh hơn.

    Nhưng tính chất của Thiên lương cũng mang lại những tình huống rắc rối khó xử, chẳng vì có hóa Quyền mà hết được. Có hóa Quyền chỉ chủ về lúc hóa giải sẽ gặp ít trở lực hơn một chút, hoặc là lúc gặp nhiều phiền phức thì mệnh tạo lập tức biết được phương hướng giải quyết, đồng thời còn được trợ lực rất hữu dụng.

    Thiên lương độc tọa thủ Mệnh, hóa Quyền ở hai cung Tý hoặc Ngọ, đối cung là Thái dương, hội “Thiên cơ Thái âm” mà Thiên cơ hóa Lộc còn Thái âm hóa Kị, lại hội Thiên đồng độc tọa; hai nhóm sao này ắt sẽ gặp Kình dương Đà la. Nếu nguyên cục gặp kết cấu dạng này, có thể nhờ nghiệp dư để kiếm tiền, hoặc đương số nên làm những nghề có tính “cô khắc và hình kị” (như khoa dược, khoa y, trật đả, tư pháp,.v.v…), đồng thời tài lộc của người này cũng sẽ có ý vị hao tổn tinh thần, hơn nữa dù thừa kế sự nghiệp của bậc trưởng bối, ắt cũng sẽ trải qua sự biến động thay đổi triệt để, biến đổi thành cục mới hoàn toàn, giống như tay trắng sáng lập sự nghiệp. Thời cổ đại không ưa nữ mệnh gặp kết cấu dạng này, bởi vì dễ vì áp lực của hoàn cảnh khách quan mà thành trụy lạc. Nếu ở lưu niên hay đại hạn mà gặp tổ hợp tinh hệ này thì ý nghĩa sẽ khác, gặp Cát tinh là tượng trưng cho cạnh tranh trong sự nghiệp, gặp các Sát tinh tụ tập thì có thể vướng vào kiện tụng, cũng có thể bị người ta gây trở ngại về phương diện nguồn tiền bạc, khiến phải hao tổn tinh thần để ứng phó, rốt cuộc cũng có thể hóa giải phiền phức. Trong các tình huống thông thường, Thiên lương hóa Quyền ở cung Tý sẽ ưu hơn ở cung Ngọ.

    Thiên lương độc tọa thủ Mệnh, hóa Quyền ở hai cung Sửu hoặc Mùi (ở cung Mùi thì Thiên lương có thể hội Lộc tồn), đối cung là Thiên cơ đồng thời cũng hóa Lộc, hội hợp với Thái dương độc tọa và Thái âm hóa Kị độc tọa. Tính chất của nhóm tinh hệ này bất lợi về “tài bạch”, về cơ bản có thể định nghĩa là “danh lớn hơn lợi”. Bởi vì Thái âm hóa Kị ở cung Tài, nhẹ nhất thì “tài bạch” cũng khó mà tích lũy được. Nhưng hai sao Thiên cơ và Thiên lương hóa thành Lộc và Quyền, nên không ảnh hưởng đến thành tựu và địa vị của mệnh tạo. Trong tình hình gặp Cát tinh và Sát tinh lẫn lộn, thường lại chủ về tính chất đặc thù như sau: phải có liên quan đến tình hình rối ren về tài chính. Vương Đình Chi từng gặp một trường hợp thực tế, người này có địa vị trong nghề nghiệp, nhưng chỉ thu nhập bình thường, về sau phải bán hạ giá để tuyên bố phá sản. Ở lưu niên hay đại hạn mà gặp mà gặp nhóm tinh hệ này, không tuyệt đối chủ về tiền của. Nếu Sát tinh nặng, thường cũng bất lợi về sức khỏe. Tính chất cơ bản bất lợi về “tài bạch” là do nhìn quá cao, hoặc tự tin quá đáng, vì vậy mà bị dẫn dụ đầu tư rồi thất bại, về sức khỏe là do quá lo nghĩ về sự nghiệp và tiền tài mà mắc bệnh liên quan đến hệ thần kinh.

    Tinh hệ “Thiên đồng Thiên lương” thủ Mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, mà Thiên lương hóa Quyền. Cung Quan là Thiên cơ ắt cũng hóa Lộc. Cung Tài là Thái âm đồng thời cũng hóa Kị. Ba nhóm tinh hệ này tất phải gặp Kình dương và Đà la. Tinh hệ “Thiên đồng Thiên lương” vốn là những sao thương hay “tâm trạng hóa” cực nặng. Sau khi Thiên lương hóa Quyền thì tâm trạng có thể ổn định hơn, nhưng lại dễ chuốc rắc rối khó xử về tình cảm, khiến ảnh hưởng đến sự thành tựu trong sự nghiệp. Nhưng phần nhiều đương số lại thích thú trong những tình huống rắc rối khó xử về tình cảm này, và quy về triết lý coi cuộc đời là hư ảo. Nếu chúng gặp những sao hiếu động, trôi nổi, như các sao Thiên hư, Thiên không, Thiên mã, Hỏa tinh, thì sẽ chủ về lãng đãng giang hồ. Ở lưu niên hay đại hạn mà gặp các tổ hợp sao này, thì sự nghiệp và tiền bạc đều không ổn định.

    Tinh hệ “Thái dương Thiên lương” thủ mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, có Lộc tồn đồng độ vây chiếu. Thiên lương hóa Quyền thì sao hội hợp là Thái âm ắt sẽ đồng thời hóa Kị (Hóa Kị ở cung Hợi thì tốt), hai sao hội hợp khác là mượn “Thiên đồng Cự môn” nhập cung. Nếu thành cách “Dương Lương Xương Khúc” thì lợi về thi cử và cạnh tranh, đồng thời cũng thích hợp tạo dựng tiếng tăm hoặc thương hiệu. Nhưng nếu gặp các sao Sát – Hình, thì nhóm tinh hệ này sẽ ngầm mang lại những tình huống rắc rối khó xử. Ví dụ như vốn đang có một kế hoạch có lợi, nhưng vì nguyên nhân nào đó mà quyết định hủy bỏ, hủy bỏ rồi vẫn chưa biết là có tổn thất, một thời gian khá lâu sau mới biết đó là thất sách. Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ có kết cấu kiểu này, thì tính chất đã thuật ở trên càng rõ nét. Nếu các Sát tinh – Hình tinh nặng, lại gặp thêm Đại hao, Âm sát ở niên hạn thì gặp kiện tụng, phạm pháp. Thiên lương hóa Quyền chỉ chủ về rốt cuộc cũng hóa giải được tai nạn.

    Tinh hệ “Thiên cơ Thiên lương” thủ Mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Thiên lương hóa Quyền thì đồng thời thiên cơ ắt cũng hóa Lộc. Xin tham khảo đoạn “Thiên cơ hóa Lộc” đã thuật ở trên.

    Thiên lương độc tọa thủ Mệnh, hóa Lộc ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung là Thiên đồng, cung tam hợp mượn “Thiên cơ Cự môn” mà Thiên cơ hóa Lộc gặp Lộc tồn, hai sao hội hợp khác là “Thái dương Thái âm” mà Thái âm hóa Kị. Thiên lương hóa Quyền ở cung độ này, tuy có năng lực tiêu giải tai nạn, nhưng đồng thời cũng làm tăng tai nạn trong cuộc đời. Nhất là Mệnh an tại cung Tị thì tính chất hung hiểm càng lớn. Thiên lương hóa Quyền bất quá chỉ khiến lúc xảy ra hoạn nạn, thì mệnh tạo sẽ biết cách hóa giải mà thôi. Đối với nữ mệnh thì phần nhiều gặp rắc rối về tình cảm, còn có sắc thái độc đoán, vì vậy các tình huống rắc rối khó xử là do bản thân mệnh tạo gây ra. Thiên lương hóa Quyền ở cung Tị, cũng làm mạnh thêm sắc thái thần bí của công việc.

    -ST-

    Kiến thức Tử vi

  • Can Ất - Thiên cơ hóa Lộc
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Ất - Thiên cơ hóa Lộc

    Bản chất của Thiên cơ là mưu chí, linh động quyền biến mà còn nhạy bén (can Bính hóa Quyền - nếu không có Quyền thì khó có thể linh động quyền biến). Cho nên khi Thiên cơ hóa Lộc ắt sẽ"chủ động"(đây là lợi thế) tìm được ra cơ hội để tạo thành sự nghiệp, vì vậy mà được lợi ích.

    Nhưng mưu trí và linh động quyền biến của mệnh tạo ít có phách lực (kim chứa phách) khai sáng sự nghiệp lớn, mà thường thành người khéo đầu cơ, cho nên vẫn bị giới hạn khá lớn, ảnh hưởng đến thành tựu của sự nghiệp và tiền bạc. Thiên cơ hóa Lộc, chỉ là nhân tài tham mưu, cố vấn chiến lược, chủ về kế hoạch, thiết kế, hoặc làm công việc đi đây đi đó cho người khác (như làm môi giới, thuyết khách, ...)

    Do bản chất thích biến động, nên cũng khó giữ một nghề, ưa đứng núi này trong núi nọ. Cho nên hễ Thiên cơ hóa Lộc ở cung mệnh, cần phải đồng thời lưu ý các sao ở cung Phúc và các sao ở cung Quan, các sao này phải có tính chất ổn định và có lực tiến thủ mới tốt. Nếu tính chất các sao thuộc loại không ổn định mà còn mang tính do dự, thiếu quyết đoán, sẽ ảnh hưởng đến Thiên cơ hóa Lộc ở cung Mệnh, khiến thành tựu của người này bị nhiều hạn chế.

    "Tiền tài"của Thiên cơ hóa Lộc không thể giữ được lâu, vì vậy, nếu cung điền trạch tốt, thì nên chú ý cơ hội mua thêm nhà cửa đất đai, nếu không phải xem cung Phu thê có các sao chủ về tài phú hay không.

    Thiên cơ độc tọa hóa Lộc ở hai cung Tý hoặc Ngọ, đối cung là Cự môn, cung Tài là tinh hệ"Thiên đồng Thiên lương"có Thiên lương hóa Quyền (can Ất), cung Quan là Thái âm độc tọa hóa Kị hoặc kèm có Kình dương (Canh Tân). Tổ hợp kết cấu nhóm tinh hệ này, vì thành"Cơ Nguyệt Đồng Lương cách", cho nên bất lợi về kinh doanh làm ăn. Tuy Thiên cơ hóa Lộc, nhưng"Thiên đồng Thiên lương"lại không phải tổ hợp sao chủ về giầu có, còn Thiên lương hóa quyền bất quá chỉ trợ giúp Thiên cơ có thể thành tựu khá lớn. Các sao ở cung Quan không ổn định, thường dễ bị lung lạc dụ dỗ mà sinh thay đổi, điều này phải dựa vào sức mạnh của Thiên lương hóa Quyền để tạo quân bình. Tìm sự ổn định như thế nào, là trọng điểm mà người có nhóm tinh hệ này thủ mệnh phải lưu ý.

    Thiên cơ hóa Lộc thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đối cung là Thiên lương hóa Quyền, hội hợp với Cự môn ở cung Quan, cung Tài có Thiên đồng thì đối xung với Thái âm lạc hãm hóa Kị ở cung Mão. Khuyết điểm của nhóm tinh hệ này hoàn toàn nằm ở cung Tài Bạch, chủ về tay trắng kiếm tiền, mà nguồn tiền tài lại không rộng, tài khí không vượng, lại còn tiêu pha lãng phí, chi tiêu không đúng mục đích. Cho nên, tuy Thiên cơ hóa Lộc, thì vẫn không chủ về tài lộc dồi dào, mà chỉ chủ về có nhiều cơ hội, có thể dựa vào công tác kế hoạch mà thu nhập cũng khá cao, hoặc làm môi giới để kiếm tiền, thì lực cạnh tranh của Thiên cơ có thể phát huy.

    Tinh hệ"Thiên cơ Thái âm"ở hai cung Dần hoặc Thân, có Đà la cùng bay đến, hoặc bị Kình Đà hội chiếu, Thiên cơ hóa Lộc Thái âm hóa Kị, hội hợp với Thiên lương độc tọa hóa Quyền ở cung Quan cư Ngọ, cung Tài là Thiên đồng độc tọa, có thể bị Kình Đà chiếu xạ, hoặc đồng độ với Kình Đà. Nhóm tinh hệ này cũng là cách"Cơ Nguyệt Đồng Lương", cung Mệnh và cung Tài đều có khuyết điểm, rất có thể thành người thích dùng thủ đoạn, kế vặt để kiếm tiền, thiếu khí khái gánh vác trọng trách. Vì vậy về sự nghiệp phần nhiều không ra gì, tiền bạc cũng bị nhiều trở ngại. Đạo"tìm cát tránh hung"là tránh có cái nhìn thiển cận, chỉ thấy lợi nhỏ trước mắt, và phải có lòng chân thành trong đối nhân xử thế để được"nhân hòa", thì mới có thể tự nhiên gặp cơ duyên tiến thân.

    Tinh hệ"Thiên cơ Cự môn"ở hai cung Mão hoặc Dậu thủ mệnh có Thiên cơ hóa Lộc, lại có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu, cung mệnh Tài khí rất vượng, cung Tài có Thiên đồng cư Hợi, cung Quan thì mượn"Thái dương Thái âm"an cung có Thái âm hóa Kị. Kết cấu tinh hệ Cự Cơ này tài lộc vượng, thích hợp dùng tài ăn nói để kiếm tiền, nhất là các nghề nghiệp có tính phục vụ, như nhà hàng, khách sạn, du lịch, môi giới, .v.v... Nếu có thêm Văn tinh, có thể đảm nhiệm công việc quảng bá.

    Các sao của cung Quan không ổn định (ở Sửu Mùi vô chính diệu), dễ thay đổi nghề nghiệp, hoặc hoán chuyển hoàn cảnh công tác, nhưng rất kị đầu tư hay đầu cơ, nếu không ắt sẽ bị tổn thất. Đây là vì"Thái dương Thái âm"hiếu động, trôi nổi, mà Thái âm hóa Kị thì thường ít suy tính trước khi đầu tư.

    Thiên đồng độc tọa cư Tài ở cung Hợi, có sao Lộc đồng độ, chủ về tay trắng làm nên, nhưng Thiên lương ở đối cung hóa Quyền, có thể vì lý tưởng quá cao mà bị tổn thất, hoặc chủ về chuốc đố kị, oán trách dẫn đến tranh chấp, gặp trở lực.

    Tinh hệ"Thiên cơ Thiên lương"ở hai cung Thìn hoặc Tuất, có Thiên cơ hóa Lộc và Thiên Lương hóa Quyền, có Kình dương hội hợp, hoặc bị Kình dương Đà la cùng chiếu. Cung Quan mượn"Thái dương Cự môn"an cung hội hợp, lại có Sát tinh đồng cung. Cung Tài là"Thiên đồng Thái âm"mà Thái âm hóa Kị, còn có Đà la hoặc Kình dương chiếu xạ. Nhóm tinh hệ này, cung mệnh Cơ Lương hóa Lộc hóa Quyền, tuy lợi về công tác kế hoạch, quản lý, giám sát, nhưng có Kình Đà hội hợp, thì lý tưởng hơi khó thực hiện. Vì vậy cơ hội tuy nhiều, nhưng thường khó nắm chắc, cũng khó phát huy. Các sao cung Tài có bản chất hiếu động, trôi nổi, mà còn bị Đà là hoặc Kình dương quấy nhiễu gây khó khăn, nên chỉ lợi về tiền bạc trước mắt, không được quá tham vọng. Nếu có kế hoạch kiếm tiền lâu dài thì khó tránh gặp sóng gió, trắc trở, nếu kinh doanh làm ăn thì còn có nguy cơ vỡ nợ. Cung Quan chủ về dễ được người ở phương xa, hay người ngoại quốc tạm thời ủng hộ (Cự Nhật)

    Thiên cơ độc tọa hóa Lộc ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung là Thái âm hóa Kị, cung Tài là"Thiên đồng Cự môn". Cung Quan mượn"Thái dương Thiên lương"an cung hội hợp, có Lộc tồn đồng cung. Nhóm tinh hệ này, tài lộc không vượng, rất nên chỉ dùng sở học để kiếm tiền, tiến hành nghiên cứu học thuật, hoặc tiếp nối tổ nghiệp chớ đừng thay đổi nghề, nếu không sẽ phí tâm lực, hoặc phí lời nói.

    Thiên cơ bị Thái âm hóa Kị gây ảnh hưởng, có thể gặp cơ hội nhưng lại bỏ qua mà không biết tại sao, cũng chủ về bị dụ dỗ đầu tư mà tổn thất, hoặc nhận lầm cơ hội, vọng động thay đổi công việc nên bị trắc trở.

    Tinh hệ"Thiên đồng Cự môn"thủ cung Tài, tuy có Thiên cơ hóa Lộc hội hợp, lại có Lộc tồn cung hội hợp, cũng chỉ chủ về chức cao lương nhiều, mà vẫn cần phải hao tổn tinh thần, hơn nữa mỗi lần thu nhập tăng thì thị phi phiền nhiễu cũng kéo đến, khó mà yên thân.

    -ST-

    Kiến thức Tử vi

  • Can Giáp - Thái Dương Hóa Kị
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Giáp - Thái Dương Hóa Kị

    Thái Dương vốn là sao động (động tinh), lúc nó Hóa Kị càng bôn ba vất vả khó nhọc, tăng thêm mức độ sóng gió trắc trở, gập ghềnh gian khổ trong cuộc đời. Nếu cung vượng thì vất vả nhưng có thể thành tựu; ở hãm địa, nhiều lời qua tiếng lại thị phi, tranh chấp rắc rối. Thái Dương Hóa Kị, bất lợi cho người thân phái nam; lúc trẻ không có duyên với cha và quan quý; nữ mệnh thì chồng bị nạn tai bệnh tật, gặp sát tinh nhiều thì sinh ly tử biệt. Thái Dương Hóa Kị, phàm làm việc gì cũng thiếu kế hoạch, có lúc còn xử sự thiếu suy nghĩ, thường vô tình chuốc lấy thị phi phiền phức, làm tăng thêm rắc rối.
    Thái Dương Hóa Kị, bất lợi về mắt; lạc hãm và thêm sát tinh, là chủ về mắc bệnh hoặc bị tật ở mắt, có nỗi buồn thất tình.
    Tối kị tọa cung Thiên Di và cung Mệnh, ắt sẽ vất vả, khó nhọc, duyên phận với cha khá mong manh; hãm địa thì nhiều tranh chấp cãi vã, tuổi trẻ vất vả bôn ba, cố chấp kiến giải của bản thân, tự cho mình là đúng, không chịu nghe lời khuyên của người khác, khăng khăng làm theo ý mình, bực dọc trong lòng, thiếu nhẫn nại.
    Đại vận hoặc lưu niên gặp Thái Dương Hóa Kị, là chủ về hao phá tiền bạc, ở cung Quan Lộc ắt sẽ làm thêm giờ, tăng thêm vất vả khó nhọc.
    Thái Dương chủ về phát tán, cho nên Thái Dương tọa cung Mệnh, không chủ về phú quý song toàn; lúc nó Hóa Kị, càng dễ thành hay chuốc thị phi oán trách.
    Do đó, người có Thái Dương Hóa Kị tọa cung Mệnh nên làm những công việc hay nghề nghiệp có tính chất thị phi, như luật sư, bộ môn pháp luật, v.v… Nếu làm những nghề nghiệp phổ thông, thì bất kể chu toàn đến mức nào, vẫn dễ chuốc thị phi oán trách vào thân.
    Thái Dương Hóa Kị cũng có phân biệt thành hai trường hợp thấy sát tinh và không gặp sát tinh. Nếu không có sát tinh, hoặc còn có các sao phụ tá đồng cung hay hội chiếu, cũng chủ về nhẫn nhục chịu khó để thành sự nghiệp lớn. Tức dù làm việc trong chính giới, vẫn xảy ra lời đồn đại phỉ báng, nhưng bất quá cũng chỉ vì có tên tuổi nên chuốc thị phi mà thôi, vận trình thực tế chưa hẳn sẽ bị ảnh hưởng. Nếu thấy sát tinh, thì dễ chuốc thị phi, ảnh hưởng đến cảnh ngộ gặp phải trong cuộc đời.
    Do đó có thể thấy Thái Dương Hóa Kị chưa hẳn là không lành. Trong đó cần đặc biệt chú ý trường hợp “Thái Dương , Cự Môn” ở cung Dần, mà Thái Dương Hóa Kị, vì có Lộc Tồn đồng cung cho nên rất thích hợp với nghề nghiệp hoặc công việc có tính cạnh tranh như ngoại giao, pháp luật, thúc đẩy tiêu thụ, quảng cáo, truyền bávv…
    Thái Dương Hóa Kị ở cung Ngọ, tuy gặp Lộc Tồn, nhưng mặt trời chói lọi ở giữa trời, ánh sáng quá thịnh, sau khi nó Hóa Kị ắt sẽ nảy sinh nghi kị, lời đồn đại phỉ báng, đại vận hoặc lưu niên mà gặp nó thì hơi tệ, dễ bị té ngã.
    Trường hợp Thái Dương Hóa Kị trong tổ hợp “Thái Dương, Thiên Lương”, có sao Không đồng cung, thì nên làm việc về tôn giáo, có thể biểu hiện tài hùng biện, còn có sức thu hút đặc biệt đối với công chúng.
    Thái Dương Hóa Kị thấy thêm Kình Dương, Thiên Hình, là kiện tụng phạm pháp, hơn nữa năm xảy ra tranh chấp bất hòa thường thường ngoài dự liệu. Gặp Hỏa Tinh thì sự nghiệp không thuận lợi, sáng lập sự nghiệp đổi nghề khó khăn trùng trùng, nhiều trở ngại, nữ mệnh dễ đồng tính luyến ái. Vận học hành mà gặp nó sẽ ảnh hưởng xấu đến chuyện thi cử.
    Thái Dương Hóa Kị ở các cung lục thân, bất kể là nam hay nữ mệnh, đều bất lợi đối với người thân, người sinh vào ban ngày tình huống sẽ nghiêm trọng hơn, nếu thấy thêm sát tinh, thường thường chủ về sinh ly tử biệt, không có duyên với cha.

    ST

    Kiến thức Tử vi

  • Can Giáp - Vũ Khúc Hóa Khoa
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Giáp - Vũ Khúc Hóa Khoa

    Hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, thanh danh; còn Vũ Khúc là sao tiền tài; cho nên lúc Vũ Khúc Hóa Khoa sẽ tăng thêm mức độ nổi tiếng, có tiền thì mọi người đều biết, tiền bạc và tiếng tăm không gì sánh bằng. Nhưng thông thường Vũ Khúc Hóa Khoa chỉ tăng thêm vẻ vang bề ngoài mà thôi, đối với việc kiếm được tiền nhiều hay ít, thực chất giúp ích không lớn, lạc hãm càng là hư danh hư lợi.

    Tuy Vũ Khúc Hóa Khoa danh lớn hơn lợi, nhưng nếu tam phương hội hợp thêm Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, thì nó có giúp ích thật sự, có thể vừa thu lợi vừa nổi tiếng, danh lợi có đủ.

    Vũ Khúc Hóa Khoa, về phương diện tài phú hoặc tiêu tiền đều có thể rực rỡ xa hoa, nhưng ở cung Tài Bạch không thích Hóa Khoa, vì tiền không nên để lộ ra. Vũ Khúc Hóa Khoa giống như người ta để lộ tiền bạc ra, ví dụ như tam phương có Kình Dương hội chiếu hoặc các sao sát kị đến xung, là sẽ có hiện tượng tổn thất tiền bạc; vận hạn gặp nó, không nên mang tiền cho mượn để kiếm lời, nếu không sẽ vì lợi nhỏ mà mất cái lớn.

    Ở cung Mão thì Vũ Khúc lạc hãm, “nảy mầm mà chẳng ra hoa”, bề ngoài thấy tốt mà không phải vậy; ở cung Dậu thì Hóa Khoa lạc hãm, “nảy mầm mà chẳng ra hoa”, bề ngoài thấy tốt mà không phải vậy.

    Vũ Khúc Hóa Kị ở cung Nhâm, ắt sự nghiệp thất bại hoặc tài phú bị phá tán.

    Sao tiền tài Hóa Khoa, cả đời tài vận yên ổn, không đến nỗi ăn trước trả sau; người Hóa Khoa mặt mày thanh tú.

    Vũ Khúc là sao tiền tài chính (chính tài tinh), nhưng lúc Hóa Khoa lại không chủ về tiền tài, mà chỉ biểu thị danh vọng nâng cao, làm việc trong giới tài chính là tốt nhất, có cơ hội thăng tiến, người bình thường thì thanh danh hiển hách, người làm ăn thì kiếm tiền bình ổn, nhân viên công chức thì được tiếng thanh cao.

    Vũ Khúc Hóa Khoa ở cung Tuất, thì Phá Quân Hóa Quyền tọa cung Tí, còn Liêm Trinh Hóa Lộc tọa cung Ngọ, đều là đắc vị; nếu đảm nhiệm chức vụ trong giới tài chính, có thể có địa vị quan trọng; nhưng đối cung là Tham Lang, nên không phát lúc trẻ, phải nhiều lần trải qua gian khổ mới thành công; cách cục này lấy trường hợp Liêm Trinh và Thiên Tướng  tọa cung Ngọ, người sinh năm Giáp là thượng cách, tọa cung Tí thì kém hơn.

    Vũ Khúc là sao tiền tài, Hóa Khoa chủ về văn, cho nên Vũ Khúc Hóa Khoa không có lực bằng sao văn Hóa Khoa, nhưng cũng chủ về người này có năng lực quản lý tài chính để kiếm tiền, nhưng khó nổi tiếng về phương diện văn nghệ, chỉ tăng rực rỡ mà thôi. Làm việc ở ngân hàng thì công việc bình ổn, tình trạng tiền bạc cũng bình ổn.

    Như đã nói ở trên, Vũ Khúc là sao tiền tài, còn chủ về hành động kiếm tiền, cho nên lúc nó Hóa Khoa sẽ có hai đặc điểm: Một là, hành động kiếm tiền có liên quan đến mức độ nổi tiếng; ví dụ, nếu làm việc trong cơ cấu tài chính nổi tiếng, nhờ hưởng được danh tiếng đó mệnh chủ mới kiếm được tiền. Thứ hai, nếu thuộc nhóm tự kinh doanh, hoặc là người trong giới chuyên môn, ắt phải xem trọng việc xây dựng tiếng tăm. Danh tiếng càng lớn thì lợi ích càng lớn, cho nên nếu Vũ Khúc Hóa Khoa là kết cấu sao tốt đẹp thì mệnh chủ thường thường danh lợi có đủ.

    Nhưng Vũ Khúc Hóa Khoa xây dựng mức độ nổi tiếng, phạm vi không bằng các sao Tử Vi Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Khoa, Thiên Cơ Hóa Khoa, sự vẻ vang chỉ giới hạn trong phạm vi sự nghiệp của bản thân. Đặc biệt có lợi đối với người làm việc trong giới kinh tế tài chính hoặc các nghề liên quan đến kim loại. Nếu Vũ Khúc Hóa Khoa gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hội hợp, thì dễ nhờ mức độ nổi tiếng mà mang lại thu hoạch bất ngờ.

    Hễ Vũ Khúc Hóa Khoa, thì Thái Dương ắt đồng thời cũng Hóa Kị, người xưa đặt ra nguyên lý này là có thâm ý “tiền không thích để lộ ra”. Vũ Khúc Hóa Khoa là danh lợi đều rực rỡ, vì vậy thị phi đố kị cũng theo đó mà đến, lúc đến đại vận Thái Dương Hóa Kị, càng cần phải chú ý sao Hóa Kị này xem nó có bị kích động hay không; nếu có, thì đây là đại vận xấu.

    Vũ Khúc đồng cung với Tham Lang, nếu Vũ Khúc Hóa Khoa mà thành cách cục “Hỏa Tham”, “Linh Tham”, tuy tiền bạc phát đột ngột, nhưng phần nhiều đều sẽ tự mãn, quá khoe khoang, đến niên vận xấu dễ suy sụp một cách mau chóng.

    Do đó nói mội cách tương đối, Vũ Khúc Hóa Khoa nên ở trong giới chuyên môn, ít nhất cũng có lợi hơn ở trong giới kinh doanh. Nhất là ở xã hội hiện đại, địa vị của người trong giới chuyên môn được nâng cao, tuy làm việc cho người khác nhưng cũng có địa vị khá độc lập, cho nên không nhất định phải theo con đường kinh doanh mới có thể làm giàu. Về đại thể, sao tiền tài Hóa Khoa, nếu dùng mức độ nổi tiếng để kiếm tiền là tốt, còn dựa vào tiền để có tiếng là không tốt, trong đó có một hàm ý rất sâu sắc và tinh tế.

    Các cung lục thân có Vũ Khúc Hóa Khoa, tính chất cơ bản tuy không thay đổi, nhưng lại có thể chuyển biến thành khuynh hướng tốt hơn. Ví dụ cung Phu Thê thấy Vũ Khúc Hóa Khoa, ý nghĩa vợ đoạt quyền chồng sẽ không thay đổi, nhưng lại chủ về vợ trợ giúp cho sự nghiệp của mệnh chủ, thậm chí có thể trông nom, quản lý sự nghiệp, quyền lực của mệnh chủ tuy bị đoạt mất, trên thực tế lại không có ảnh hưởng xấu. Ví dụ cung Tử Nữ thấy Vũ Khúc Hóa Khoa, tính chất ít con cái không thay đổi; có một số tinh hệ, chủ về vợ lẽ hoặc vợ kế sinh con trai, tính chất này cũng không thay đổi, nhưng còn chủ về con cái xuất sắc, cho nên tuy ít con nhưng vẫn tốt. Ví dụ cung Phụ Mẫu thấy Vũ Khúc, vốn chủ về hình khắc phân li, sau khi Hóa Khoa, không chủ về hình khắc, có lúc còn chủ về cha mẹ có uy quyền; dù thấy sát tinh cũng không đến nỗi “tử biệt”.

    ST

    Kiến thức Tử vi

  • Can Giáp – Phá Quân Hóa Quyền
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Giáp – Phá Quân Hóa Quyền

    Phá Quân hóa Quyền không bằng hóa Lộc. Hóa Lộc có thể khiến cho quá trình thay đổi thuận lợi, có kết quả tốt đẹp, nhưng lúc hóa Quyền thì không thể đảm bảo một cách chắc chắn rằng sẽ tránh được thất bại.

    Sắc thái đặc biệt của Phá quân hóa Quyền là ở phương diện phô trương thanh thế. Nhưng thanh thế lớn có lúc chỉ có thể khiến cho người khác dễ có khuynh hướng nghe theo ý kiến của bản thân mệnh tạo, vẫn không thể tránh được các tình huống trắc trở, rắc rối. Thâm chí nhiều khi còn xuất hiện tình huống này, người Phá quân hóa Quyền thủ Mệnh, có ý muốn thay đổi hoàn cảnh khách quan (ví dụ như muốn kinh doanh thêm một ngành khác), mà bản thân mệnh tạo không nắm chắc tình hình thực tế, nhưng sau khi mang suy nghĩ của mình nói cho người khác nghe, người khác lại cho rằng bản thân họ đã có thành tựu và không ngừng thúc dục, thậm chí còn trợ giúp cụ thể, rốt cuộc thành thế cưỡi lưng cọp, không tiến hành không xong.

    Cho nên trong đại hạn gặp Phá quân hóa Quyền thủ cung Mệnh, cung Quan hay cung Tài thì cần phải lưu ý, lúc gặp lưu niên không tốt thì không được mạo muội đưa ra chủ ý của mình, để tránh âm dương không phối hợp, rốt cuộc bị buộc phải thay đổi trong hoàn cảnh đầy trắc trở.

    Hễ Phá quân hóa Quyền thì Liêm trinh ắt sẽ hóa Lộc, nhưng Lộc của Liêm trinh có tài khí không lớn, không đủ để ỷ lại. Chỉ khi nào có kết cấu sao Cát tường, thanh thế của Phá quân hóa Quyền mới có lợi để tiến hành sự việc.

    Phá quân thủ Mệnh hóa Quyền ở hai cung Tý hoặc Ngọ, đối cung là”Liêm trinh Thiên tướng”mà Liêm trinh hóa Lộc. Cung Quan là Tham lang độc tọa. Cung Tài là Thất sát cũng độc tọa có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu, ở tam phương tứ chính đều không gặp Kình dương và Đà la. Tinh hệ có kết cấu dạng này khá tốt lành, có lợi về khai triển sự nghiệp, tài lộc cũng theo đó mà tăng lên, nhưng không được có Địa không Địa kiếp Hỏa tinh Linh tinh hội chiếu Phá quân. Tinh hệ kết cấu dạng này ở tinh bàn nguyên cục có thể nói là cách cục đẹp, dù đại hạn hoặc lưu niên gặp kết cấu này, cũng chủ về biến động thay đổi theo hướng cát tường. Nhưng nhóm tinh hệ này, cổ nhân lại cho rằng không thích hợp với nữ mệnh, chủ yếu là về phương diện hôn nhân. Cung Phu thê là Vũ khúc hóa Khoa hội”Tử vi Thiên phủ”, lại hội”Liêm trinh Thiên tướng”mà Liêm trinh hóa Lộc (Phá quân ở cung Tý thì Vũ khúc còn hội Lộc tồn), kết cấu dạng này thường dễ xảy ra tình huống thay lòng đổi dạ, bất mãn chồng, do đó ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân.

    Tinh hệ”Tử vi Phá quân”thủ Mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, mà Phá quân hóa Quyền (đồng độ với Đà La, hoặc hội Kình Đà). Cung Quan là”Liêm trinh Tham lang”có Liêm trinh hóa Lộc. Cung Tài là”Vũ khúc Thất sát”có Vũ khúc hóa Khoa. Ở tam phương đều gặp Sát tinh. Tuy gặp Kình Đà nhưng ở cung Mệnh mà gặp nhóm tinh hệ này, vẫn có thể xem là thượng cách. Nếu tam phương là Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa tụ hội, phối trí quân bình, thì Kình Đà chỉ chủ về tình huống căng thẳng mà thôi. Đời người không thể thập toàn thập mỹ, không thể việc gì cũng thuận lợi, vì vậy không thể xem đây là khuyết điểm trọng đại. Nhóm tinh hệ này có biểu hiện chủ động, còn có sở trường giao tế, có thể lợi dụng quan hệ giao du để trợ giúp cho công việc làm ăn, cũng thường thích đầu tư vốn lớn vào sự nghiệp mới, đầu óc linh hoạt và tinh tế sắc sảo. Chỉ có một khuyết điểm lớn, đó là người dưới quyền không đắc lực, nên khó tránh khỏi phải vất vả, mà còn bất lợi nếu phát triển ở tha hương.

    Phá quân độc tọa thủ Mệnh, hóa Lộc ở hai cung Dần hoặc Thân, có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu, đối cung là”Vũ khúc Thiên tướng”mà Vũ khúc hóa Khoa. Cung Tài là Thất sát. Cung Quan là Tham lang. Phá quân có sao Lộc được hóa Quyền, cho nên lực”xung kích”cực kỳ mạnh, thanh thế cũng lớn, có thể nói là đời người nhiều biến đổi, nhiều đột phá, thường không giữ một nghề. Cung Di là”Vũ khúc Thiên tướng”, mà Vũ khúc hóa Khoa, còn có Lộc tồn hội hợp, thành cách”Lộc Quyền Khoa hội cách”, do đó rất có lợi đối với người Phá quân hóa Quyền thủ Mệnh, có thể rời khỏi quê hương để phát triển, hoặc có khả năng chủ động sửa đổi hoàn cảnh khách quan, thường thường có kết quả tốt hơn ban đầu. Chỉ có một điều tệ hại là Thất sát hội sao Lộc ở cung Tài, tài lộc vượng mà không giỏi quản lý, thêm vào đó cung Huynh và cung Nô đều không ổn định, về phương diện quản lý tài chính lại không thể ủy thác cho người khác, nên dễ có hiện tượng tài chính vượt khỏi tầm kiểm soát. Tinh hệ”Liêm trinh Phá quân”thủ mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, có Liêm trinh hóa Lộc đồng độ với Phá quân hóa Quyền. Xin tham khảo ở đoạn”Liêm trinh hóa Lộc”.

    Phá Quân độc tọa thủ Mệnh, hóa Quyền ở hai cung Thìn hoặc Tuất. Cung Quan là Tham lang độc tọa, có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu, đồng thời ắt cũng có Liêm trinh hóa Lộc vây chiếu. Cung Tài là Thất sát độc tọa (chỉ có Thất sát tọa cung Ngọ mới hội Lộc tồn). Cung Quan có sao Lộc nặng, cung Tài có sao Lộc nhẹ, cho nên ý nghĩa của Phá quân hóa Quyền có thể biến thành nắm quyền tài chính, mà không thể tích lũy tiền của. Nếu kinh doanh làm ăn, thì thường giỏi”công”mà không giỏi”thủ”, thậm chí vượt quá tầm kiểm soát. Cần phải tích lũy cho đến lúc có tài lực kha khá, mới phát động đột phá một lần, như vậy sẽ tốt hơn là cứ hay thay đổi lặt vặt. Đây là đạo”tìm cát tránh hung”cải thiện vận mệnh đời người. Đại hạn hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ có kết cấu kiểu này, cần phải tham khảo thêm vận hạn sau để tính toán phương cách hành động. Tinh hệ này sở trường về ra quyết sách, cho nên làm việc trong lĩnh vực tài chính kinh tế là tốt nhất. Cung Di có Lộc Quyền Khoa tụ hội, cho nên cũng có lợi về chuyển đi xa. Chỉ có một khuyết điểm là không giỏi xử lý theo chế độ công ty, nên tâm chí thường có cảm giác bị rối loạn.

    Tinh hệ”Vũ khúc Phá quân”thủ Mệnh ở hai cung Tị hoặc Hợi, mà Vũ khúc hóa Khoa còn Phá quân hóa Quyền. Cung Quan là”Tử vi Tham lang”ắt sẽ có Kình Đà hội chiếu hoặc Kình dương đồng độ. Cung Tài là”Liêm trinh Thất sát”mà Liêm trinh hóa Lộc ắt cũng có Kình Đà hội chiếu, hoặc Đà la đồng độ. Nhóm tinh hệ này, người đời Thanh có thuyết:”Vũ khúc Phá quân Hóa Khoa Hóa Quyền, nhậm chức về quân nhu”, do đó có thể thấy sắc thái đặc biệt của nó. Giỏi quản lý tài chính, giỏi kiếm tiền, là hai đặc điểm lớn nhất của tinh hệ này. Nếu kinh doanh làm ăn, thì khó tránh vì tham vọng quá lớn mà làm tăng vất vả khổ lụy, nhưng lại dễ khiến cho người khác phải giật mình vì thành tích của mệnh tạo. Nhóm tinh hệ này đồng thời cũng có một nguy cơ, đó là do làm việc quá vất vả nên dễ ảnh hưởng đến sức khỏe. Thích hợp với những ngành nghề kinh doanh phục vụ, có tính chất tiêu dùng. Nếu nhậm chức làm công hưởng lương, thì nên đề phòng có quan hệ không tốt đối với thượng cấp. Vì Thái dương hóa Kị ở cung Phụ mẫu, cũng dễ xảy ra tình huống soi bói, bới móc.”Vũ khúc Phá quân”ở cung Hợi thì càng nặng.

    ST -

    Kiến thức Tử vi

  • Can Giáp – Liêm trinh hóa Lộc
    THANHTAMT THANHTAM

    Can Giáp – Liêm trinh hóa Lộc

    Liêm trinh là sao thuộc về cảm tính, cho nên không đại biểu cho ham muốn vật chất. Khi Liêm trinh hóa Lộc, tính chất hưởng thụ tinh thần vẫn nhiều hơn tính chất hưởng thụ vật chất. Do đó trong sinh hoạt ắt sẽ chịu tiêu sài, lấy mức sống cao để tạo sự thuận lợi về hưởng thụ tinh thần, tất nhiên sẽ không keo kiệt.

    Nhìn bề ngoài, Liêm trinh thích tiêu xài giống Tham lang, nhưng thực ra bản chất khác nhau. Sự tiêu xài của Tham lang thuần túy thuộc tửu sắc, còn sự tiêu xài của Liêm trinh thì thuộc “phong hoa tuyết nguyệt”, tính chất thanh nhã hơn, khá xem trong tinh thần và cảm tính.

    Liêm trinh thường có sắc thái thủ đoạn, cho nên khi Liêm trinh hóa Lộc, cũng chủ về dùng thủ đoạn để tiến thủ, như giao tế thù tạc, kết bè bết phái, .v.v…

    Lúc Liêm trinh hóa Lộc, lại gặp các sao Hung – Sát – Hình, sẽ chủ về tửu sắc. Dùng thủ đoạn càng nhiều thì thù tạc càng nhiều, nhưng cuối cùng chẳng thu hoạch được gì, mà trong công việc làm ăn, còn bị rơi vào tình trạng thiếu hụt tiền bạc. Nếu lại còn gặp các sao đào hoa, thường thường sẽ vì sắc mà phá tài. Nhưng lúc Liêm trinh hóa Lộc gặp đào hoa, mà không có các sao Sát – Kị, thì lại chủ về nhờ có thù tạc trăng gió, mà được hiến thân hoặc đắc tài lộc.

    Liêm trinh hóa Kị ở nguyên cục (can Bính), lại hóa Lộc ở đại vận hoặc lưu niên, thường chủ về có hoạnh tài (như đầu tư, đầu cơ, cờ bạc, .v.v…), nhờ có tài lộc nên rất vui vẻ hạnh phúc.

    Tinh hệ “Liêm trinh Thiên tướng” có Liêm trinh hóa Lộc thủ Mệnh ở hai cung Tý hoặc Ngọ, đối cung ắt sẽ là Phá quân hóa Quyền, cung Quan là Vũ khúc hóa Khoa, thì chủ về tuy làm chức phó, nhưng lại thường kiêm nhiệm trọng trách và nắm giữ quyền hành.

    Đại hạn hoặc lưu niên đến cung hạn này, thường sẽ chủ về chuyển biến theo hướng tốt lành, nhưng nếu Thái dương hãm tại cung Tị hóa Kị (can Giáp) ở cung Nô, xung chiếu Cự môn ở Hợi cư Huynh đệ, thì cũng đồng thời chủ về quan hệ giao tế chuyển biến theo hướng xấu. Tinh hệ “Liêm trinh Thiên tướng” mang đậm sắc thái chính trị, nên quan hệ giao tế càng thêm quan trọng. Không thể không chú ý các sao phối hợp.

    Tinh hệ “Liêm trinh Thất sát” có Liêm trinh hóa Lộc thủ mệnh ở hai cung Sửu Mùi, có Đà la đồng độ, hoặc có Kình Đà vây chiếu, ắt cũng sẽ đồng thời có Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp đủ Khoa Quyền Lộc, cung Quan là Phá quân hóa Quyền, Vũ khúc hóa Khoa ở cung Tị hoặc Hợi, thanh thế cũng cực hiển hách, quyền lực và nhiệm vụ lớn hơn “Liêm trinh Thiên tướng”. Đối cung mệnh ở Sửu là Thiên phủ ở Mùi có bản chất ổn định, cung Tài có “Tử vi Tham lang” chủ về tiêu xài, cho nên toàn bộ kết cấu tinh hệ có mức độ tài lộc rồi dào hơn tinh hệ “Liêm trinh Thiên tướng”. Đà la thì sinh lần nữa, nhưng lúc này cung Huynh là Thiên lương cư Tý, đối cung với cung Nô là Thái dương cư Ngọ hóa Kị, quan hệ giao tế so với mệnh “Liêm trinh Thiên tướng” thì lại cần phải chú ý hơn, thường dễ phạm pháp, tranh chấp, cho đến âm mưu …

    Liêm trinh độc tọa thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, mà hóa Lộc, có Lộc tồn cùng bay đến hoặc vây chiếu, cung Quan tại Ngọ hoặc Tý là tinh hệ “Thiên phủ Vũ khúc” trong đó Vũ khúc hóa Khoa (can Giáp), thì chủ về tiền bạc có uy tín, hoặc thích hợp nắm quyền tài chính. Nhưng Liêm trinh đối nhau với Tham lang (Dần Thân), làm nặng thêm tính ham muốn vật chất của Liêm trinh, vì vậy cũng dễ thành xem trọng hưởng thụ vật chất. Về sự nghiệp thì thích hợp với các nghề liên quan đến nghệ thuật, giải trí, vui chơi, tiêu dùng, làm việc trong chính giới hoặc mậu dịch càng tốt. Tinh hệ “Thái dương Thái âm” thủ cung Nô tại Sửu Mùi, mượn nhập cung Huynh đệ, chủ về người dưới quyền nhiều mà không ổn định.

    Tinh hệ “Liêm trinh Phá quân” thủ mệnh ở hai cung Mão Dậu, trong đó Liêm trinh hóa Lộc đồng độ với Phá quân hóa Quyền, có Kình dương đồng cung, hoặc Kình Đà vây chiếu. Quyền Lộc gặp nhau, chủ về cảnh ngộ thay đổi, cung Quan là tinh hệ “Vũ khúc Tham lang” mà Vũ khúc hóa Khoa, càng làm mạnh thêm tài vận của “Liêm trinh Phá quân”, cung Tài là tinh hệ “Tử vi Thất sát” cũng hữu lực, tam phương có Quyền Lộc rất nặng. Đối cung Mệnh là Thiên tướng tại Mão, bị “Cự môn Thái dương” có Thái dương hóa Kị, và Thiên lương của Cơ Lương tại Thìn giáp cung gây ảnh hưởng, khiến “Liêm trinh Phá quân” cũng dễ bị các tình huống trắc trở ngầm mai phục. Nhân tố chắc trở của cung mệnh này chủ yếu là tình cảm. Đặc biệt là Thiên phủ ở cung Phúc (Tị Hợi) hội hợp với Thiên tướng bị sao Hình – Kị giáp cung, chủ về khó giữ được sự thận trọng. Vì vậy cần phải duy trì thành tựu đã đạt được mới cát lợi.

    Tinh hệ “Liêm trinh Thiên phủ” khi Liêm trinh hóa Lộc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, có Vũ khúc hóa Khoa của tinh hệ “Vũ khúc Thiên tướng” ở cung Quan tương hội, đối cung là Thất sát, Tài cung là Tử vi độc tọa. Tính chất của toàn bộ tinh hệ này, thích hợp làm việc trong chính giới, hay trong quân đội, cảnh sát, vì mệnh tạo này ứng với người kiêm văn võ, có thể công và có thể thủ, còn giỏi quản lý tài chính. Có điều cung Quan thiếu lực để ngồi ở vị trí tối cao mà thôi.

    Tinh hệ này còn có một đặc điểm, vận tuổi trẻ bát lợi, đến 5 năm cuối của đại hạn thứ 3 mới bắt đầu khởi sắc. Cứ mỗi đại hạn, thì 5 năm cuối sẽ tốt hơn 5 năm đầu, thậm chí mỗi năm, nửa năm cuối cũng tốt hơn nửa năm đầu. Đây là vì “Liêm trinh Thiên phủ” ở cung “thiên la địa võng”, cho nên mọi lợi ích đều chủ về từ từ.

    Khuyết điểm của mệnh bàn này là ở cung Huynh đệ, cung Nô và cung Phu thê. Đặc biệt đối với nữ mệnh, thì cần phải xem trọng tâm trạng của người phối ngẫu.

    Tinh hệ “Liêm trinh Tham lang” khi Liêm trinh hóa Lộc ở hai cung Tị Hợi, cung Quan có “Vũ khúc Thất sát” hóa Khoa, cung Tài là “Tử vi Phá quân” hóa Quyền có kèm Đà la hoặc hội hợp với Kình Đà, chủ về tính chất không giữ được đất đai nhà cửa của ông bà, cha mẹ, mà phải tự lập. Cho nên ở đại hạn tốt hơn ở tam phương của nguyên cục.

    Kết cấu tinh hệ này thích hợp với các nghề nghiệp liên quan đến nghệ thuật, hoặc công nghệ, gặp đào hoa cũng có thể thích hợp với sự nghiệp nghệ thuật, hoặc ngành giải trí, vui chơi, tiêu dùng. Có điều cung Tài là “Tử vi Phá quân” đồng độ với Đà la, chủ về kiếm được tiền nhưng có hiện tượng kéo dài và khó tích lũy, còn chủ về bản thân không muốn thù tạc mà phải tiêu xài quá lớn. Cung Phu thê là Thiên phủ, nếu cung Mệnh hoặc cung Phúc có các sao “đào hoa”, cũng chủ về tái hôn nhưng vợ chồng cũ vẫn còn vương vấn tình cảm, chưa dứt khoát. Thái dương hóa Kị đến cung Nô (cung giao hữu) chủ về không đắc lực, mà còn có tranh chấp ngầm.

    Bổ thuyết Liêm trinh Hóa Lộc

    – Liêm trinh hóa Lộc ở cung Mệnh, ở cung Tài bạch, ở cung Sự nghiệp đều chủ về Mệnh cách có nguồn Tài Khí mới, lợi cho việc kiếm tiền, dễ được giầu có.

    – Liêm trinh hóa Lộc ở cung Phúc đức, chủ về ưa thích theo đuổi cuộc sống hưởng thụ, lòng coi nhẹ sự nghiệp, có dục vọng mạnh hưởng thụ cuộc đời, có điều nhiều lúc vì ham hưởng thụ mà dấn thân liều mạng làm việc.

    – Liêm trinh hóa Lộc ở các cung viên Lục thân, thì chủ về quan hệ tình cảm thâm sâu hài hòa với nhau, ở cung Phụ mẫu thì cha từ con hiếu, ở Phu thê thì tình cảm vợ chồng đều vui vẻ, ở Huynh đệ thì thủ túc tinh thâm, ở Tử nữ thì con cái hiếu thuận, ở cung Nô thì thuộc hạ trung thành, bạn bè tăng thêm niềm vui hữu nghị.

    – Liên trinh hóa Lộc ở cung Thiên di thì chủ về ở hải ngoại hay nơi xa có nhiều lạc thú, nhiều thuận lợi dễ kiếm tiền.

    – Liêm trinh hóa Lộc ở cung Tật ách chủ về bệnh đường hô hấp.

    – Liêm trinh hóa Lộc ở cung Điền trạch thì chủ về có thể mua bất động sản, hoặc giữ được cơ nghiệp, hoặc có thể đầu tư bất động sản, nhờ đó mà tiền tài tích tụ thành giầu có.

    (Nguồn: sưu tầm)

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Hỏa tinh thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Hỏa tinh thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Hỏa tinh thủ mệnh

    Người có Hỏa tinh tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt bầu dục, dáng người trung bình, sắc mặt vàng hồng, tóc hoe đỏ hoặc vàng khô. Người này thích biện luận, nóng vội không yên, thích tranh đấu, làm việc nhanh chóng, có đầu không có cuối, cả đời tương đối vất vả gian nan.
    ***
    Người có Hỏa tinh tọa thủ cung Mệnh thường có mặt tròn dài, mặt có sắc vàng hồng. Người có Hỏa tinh miếu vượng thường có sắc mặt màu đỏ đồng thể hiện sức khỏe tốt. Người có Hỏa tinh lạc hãm khuôn mặt thường gầy gò, có tàn nhang hoặc mặt rỗ hoặc có sẹo, tóc thường khô và ngả màu vàng.
    Người có Hỏa tinh tọa thủ cung Mệnh đa phần đều có môi dày, ánh mắt lén lút. Họ thường có một số tật xấu như tính tình nóng vội, đứng ngồi không yên, chân tay run rẩy. Họ cũng thuộc mẫu người mạnh mẽ, ưa đàm luận hoặc tán chuyện, động tác nhanh nhẹn, không thích ở yên một nơi quá lâu, làm việc quyết đoán nhưng cẩu thả. Người có Hỏa tinh miếu vượng thường gặp nhiều cơ hội phát tài bất ngờ, tài vận cũng rất dồi dào. Vì thế họ không quá quan tâm đến cảm nhận của người khác. Người có Hỏa tinh lạc hãm thường ít gặp cơ hội phát tài, tính tình mạnh mẽ, nham hiểm. Đường nét khuôn mặt khô gầy, thường bị rỗ mặt hoặc có sẹo, tóc khô xơ, cử chỉ hèn hạ. Cuộc đời gặp nhiều thị phi, là mệnh hạ tiện.
    ***
    Người có Hỏa tinh tọa thủ cung Mệnh sẽ có vóc dáng cao vừa tầm, đối với nam giới sẽ có chiều cao từ 1m65 đến 1m70, còn với nữ giới sẽ có chiều cao từ 1m54 đến 1m65.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Hỏa tinh tọa thủ cung Mệnh tại Dần, Ngọ, Tuất chỗ vượng địa sẽ có thân hình cao vừa tầm và cường tráng, sức khỏe tốt, có làn da màu đồng cũ hơi hồng, tóc hoe đỏ, tính cách hấp tấp vội vàng không nhẫn nại, tốc độ làm việc rất nhanh, giỏi biện luân.
    Người có Hỏa tinh tọa ở cung Mệnh tại Thân, Tý, Thìn chỗ hãm địa là người có thân hình khá gầy và thấp, trên mặt có mụn hoặc tàn nhang, lúc trẻ mắc bệnh đậu mùa nen để lại nhiều sẹo, nước da hơi đen, tóc hoe vàng. Thường có ánh mắt rất dữ tợn và nham hiểm, bên ngoài thì giả vò lương thiện nhưng bên trong lại hiểm độc, một đời nhiều thị phi. Nếu như tọa thủ cung Mệnh tại cung Sửu tuy là nhược địa, nhưng ở đối cung có Vũ khúc, Tham lang chiếu lẫn nhau, việc chiếu hội của Tham lang sẽ giải được điềm hung của Hỏa tinh, hình thành sự biến đổi quan trọng về tài vận, cũng sẽ có tính cách cương trực, là người tài trong giới võ chức. Nếu như tọa thủ cung Mệnh tại Tỵ, Hợi có Liêm trinh, Tham lang chiếu lẫn nhau, bởi 2 sao này ở chỗ hãm nhược nên sẽ càng tăng thêm tính cách hiểm độc của người này, chủ về hình khắc, thị phi, tướng mạo hạ tiện.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757407248688-z6993383515178_b22a136d6751c29d0a6be558a8d13b40.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Thất sát thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Thất sát thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Thất sát thủ mệnh

    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh là người có khuôn mặt vuông dài, dáng không cao; người có cung Mệnh tọa thủ ở Dần, Thân cũng có thân hình cao lốn. Thời trẻ có sắc mặt trắng xanh, về già sắc mặt vàng hồng, mắt to, có uy nghiêm, tính khí nóng nảy. Vui giận biểu hiện ra sắc mặt, tính tình thất thường, mạnh mẽ, không nhẫn nại. Mạnh dạn gánh vác trách nhiệm, cả đời vất vả bôn ba.
    ***
    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt vuông dài, mắt to, cá biệt có người có khuôn mặt hơi ngắn nhưng xương gò má cao, đồng tử thường rất to, là người có uy lực. Thuở nhỏ có sắc mặt xanh trắng, trung niên và về già có sắc mặt sạm vàng.
    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh thường không béo tốt nhưng thân thể rắn chắc, tráng kiện. Người có Thất sát tọa chỗ miếu vượng là người có nước da nhẵn nhụi nhưng khoảng hơn 30 tuổi sẽ xuất hiện vết nhăn. Người có các sát tinh như Dương nhẫn, Hỏa tinh, Linh tinh đồng cung tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt gầy, nhỏ hoặc trên mặt có sẹo và chân tay có tật. Ví như khuyết tật một ngón tay hoặc ngũ quan không cân đối.
    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh là người kiên định, ngoan cố, uy vũ và thường mang vẻ mặt đằng đằng sát khí khiến người khác có cảm giác khó gần, sợ hãi. Họ cũng là người chậm chạp, cẩn thận, trong lòng thường có nhiều suy nghĩ. Khi sao này hóa sát thì họ sẽ trở thành người có quyền thế.
    ***
    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh đa phần có dáng người không cao, chi vừa tầm hoặc hơi thấp. Đối với nam giới thì cao từ 1m56 đến 1m67, còn với nữ giới sẽ có chiều cao từ 1m48 đến 1m62.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có sao Thất sát tọa ở cung Mệnh đa số là nhỏ nhắn, rất ít người là béo tốt nhưng xương to, chắc chắn. Khi Thất sát tọa ở cung Dần, Thân thường sẽ có thân hình khá to lớn, còn tọa ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ đa phần là người có thân hình cường tráng, khỏe mạnh nhưng vóc dáng không cao.
    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh đường nét của khuôn mặt rõ ràng nhưng lộ xương quai hàm, mắt to, đồng tử rất đen và to, khi nghiêm túc thì rất có uy lực, có khí phách át người. Nếu Thất sát độc tọa ở cung Mệnh chỗ miếu vượng, lại có Dương nhẫn, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh chiếu lẫn nhau thì người này ắt khuôn mặt sẽ có tướng ác, hoặc mặt nhọn, thần mắt hung dữ.
    Người có Thất sát tọa thủ cung Mệnh ở cung Tý, Ngọ đa phần là làm nhân viên công chức hoặc làm kinh doanh, là người làm việc rất nỗ lực, rất thích kiếm tiền.
    Người có Thất sát tọa ở cung Mệnh chỗ Thìn, Tuất là người có thân hình khá tráng kiện, dáng người vừa phải hoặc thấp, cũng là người có dáng người vất vả, khô cực, thích làm ông chủ.
    Người có Thất sát tọa ở cung Mệnh chỗ Dần, Thân là người có mệnh cách khá cao, dễ đầu quân vào ngành vũ trang, sẽ có vị trí cao, hoặc trong công việc chủ yếu là người đảm đương trách nhiệm về vũ khí và kim khí.
    Người có Thất sát tọa ở cung Mệnh đều là người lúc nhỏ cơ thể yếu, đến tuổi trưởng thành thì cơ thể bắt đầu cường tráng. Nước da giai đoạn thanh niên là vàng xanh, đến sau tuổi trung niên thì ám xanh. Khuôn mặt thể hiện sự trầm ổn, đa mưu, nghiêm túc, khẳng khái, có trách nhiệm, thích mạo hiểm, dễ nổi giận nhưng vốn là người có cá tính trầm ổn.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757407174871-z6993378211060_8ad7ed16d27539f69acfc11189ab029c.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Đà la thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Đà la thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Đà la thủ mệnh

    Người có Đà la tọa thủ cung Mệnh đầu và khuôn mặt đều tròn. Khí chất thô, tính cách ngoan cố, nhiều thị phi, không ưa vòng vo, có điểm phá tướng, răng và chân tay có thương tật. Tâm chí tư tưởng rắc rốì, tinh thần khó khai sáng, cả đời vất vả gian nan, ba chìm bảy nổi, phải rời xa quê hương phát triển mới tốt.
    ***
    Người có Đà la tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt tròn vuông, gò má rộng, bầu bĩnh, khuôn mặt thường thiếu cân đối, nhiều da thịt. Trên mặt thường có sẹo hoặc môi, răng có tật, lớn lên tướng mạo thô kệch. Thủa nhỏ thường có sắc mặt trắng xanh, trung niên và về già có sắc mặt vàng xanh.
    Người có Đà la tọa thủ cung Mệnh là người có nhiều mưu kế gian xảo, khó hòa hợp với lục thân, làm việc thường hay che đậy, thay đổi, cả thèm chóng chán. Là người gặp nhiều thị phi, vô liêm sỉ.
    Người có Đà la tọa thủ cung Mệnh lại có Liêm trinh tương chiếu tất sẽ vì sắc chuốc họa, do ham mê tửu sắc mà thành tật bệnh, là mệnh đê tiện. Người có Đà la tọa thủ cung Mệnh lại có Dương nhẫn tọa ở cung Thân sẽ có hình khắc nặng, nên làm công việc liên quan đến tang ma, huyệt mộ. Họ là người có tật ở mắt, tướng mạo bần cùng.
    ***
    Người có Đà la tọa thủ cung Mệnh sẽ có dáng người hơi thấp, béo. Khi Đà la tọa ở chỗ miếu địa thì càng có vóc dáng béo tốt, thân hình cường tráng, khá to béo. Còn khi Đà la tọa ở chỗ hãm đỉa là người có thân hình thấp gầy, đối với nam giới sẽ có chiều cao từ 1m64 đến 1m72, còn đối với nữ giới sẽ có chiều cao từ 1m45 đến 1m65.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Đà la độc tọa ở cung Mệnh tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đa phần sẽ có thân hình cường tráng, khá béo, khuôn mặt cũng khá tròn, xương quai hàm rộng, mũi tẹt, môi dày, hoặc môi và răng có thương tật, hoặc trên đầu, trên mặt có thương tật, phá tướng. Người này thường bất hòa với người nhà, cần phải rời xa gia đình đi nơi khác để phát triển, một đời thăng trầm bất định. Nếu như theo ngành cảnh sát sẽ có phát triển, còn nêu tự gây dựng sự nghiệp hoặc theo nghiệp văn thì thành tựu không được lâu dài.
    Người có Đà la tọa ở cung Mệnh tại Hợi, lại có Liêm trinh, Tham lang chiếu lẫn nhau sẽ là người ham mê tửu sắc, đồng thời cũng phạm vào sắc tình, vì sắc phạm vào hình. Người này có dáng dấp dung tục hạ lưu.
    Người có Đà la tọa ở cung Mệnh tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi chỗ nhược địa cũng tương tự, là người không thẳng thắn, nham hiểm thâm độc, có khuôn mặt, đôi mắt dung tục, ắt là phường trộm cắp.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406947827-z6993362248012_65ec3c0ac4354944934c1f64d6ba3633.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Tử vi thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Tử vi thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Tử vi thủ mệnh

    Người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt tròn vuông, tướng mạo khí khái, uy nghiêm, trung hậu, thận trọng, được người khác kính trọng, trong cuộc đời cũng sẽ gặp những người hiểu biết, lịch sự.
    ***
    Người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh đa phần đều có khuôn mặt bầu dục, ngũ quan cân đối, khí khái, tướng mạo đôn hậu, thận trọng, nét mặt hài hòa. Sắc mặt phần lớn màu vàng đất, trung niên trở về sau dần chuyển sang màu vàng tía. Bỏi vì khuôn mặt biểu thị sự trung hậu chân thành khiến cho người khác có cảm giác tin cậy nên thường được mọi người tôn trọng. Ví dụ như tổng thông Bill Clinton nước Mỹ là người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh.
    ***
    Người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh thường có thân hình không quá cao. Mệnh nam thường cao từ 1m60 đến 1m70, mệnh nữ cao từ 1m55 đến 1m62, có thể coi là người tầm thước, hơi thấp.
    Đặc trưng ngoại hình: Là người có phần eo, lưng nhiều thịt, lưng dài, chân ngắn, không béo cũng không gầy. Người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh tuổi trẻ có thân hình hơi cao to, dáng vẻ nặng nề, da có sắc đen vàng, chân tay ngắn, cử chỉ chậm chạp, từ tốn nên người khác thường hiểu lầm là người này vừa đang suy nghĩ vừa hoạt động chân tay.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406893971-z6993358480346_a4e34462f53359901e5e90ece7c3cd4e.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Tử vi, Phá quân thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Tử vi, Phá quân thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Tử vi, Phá quân thủ mệnh

    Người có Tử vi, Phá quân tọa thủ cung Mệnh là người có khuôn mặt hình chữ nhật, hai quai hàm lộ rõ, có khi hơi mở rộng. Phần lớn có ngoại hình trung hậu thành thực nhưng là người hào sảng, dám làm dám chịu, có khí chất đặc biệt mang vẻ đẹp mộc mạc. Họ thường có sắc mặt màu ám vàng, hơi đen, phần nhiều là người làm công nhân. Nếu như làm công chức thường là người nghèo khó, cuộc sống trắc trở gian nan.
    ***
    Người có Tử vi, Phá quân tọa thủ cung Mệnh có thân hình không quá cao và thường thấp hơn so với người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh, thuộc mẫu người tầm thước, hơi thấp. Mệnh nam cao từ 1m60 đến 1m65, mệnh nữ cao từ 1m53 đến 1m60.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Tử vi, Phá quân tọa thủ cung Mệnh, bất luận là nam hay nữ đều có vai rộng, lưng dày. Đặc trưng này sau 30 tuổi sẽ lộ rõ. Người có Tử vi, Phá quân tọa thủ cung Mệnh, do cung Mệnh có tổ hợp hệ sao Tử vi nên thân hình hơi thô mà không thanh thoát. Lời nói, hành động, cử chỉ của họ cũng tương đối thô tục mà không giống như người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh có lời nói, hành động thận trọng, nghiêm túc. Họ có tướng mạo giống người có Tử vi tọa thủ cung Mệnh, cao to, vạm vỡ, uy nghiêm. Đa phần thường có nước da đen, vàng đen, có khi là vàng xanh. Họ là người phóng khoáng, cởi mở, thích khoa trương và tự tin nhưng dễ có những hành động kích động, khiêu chiến người khác.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406842341-z6993355083175_279987f5cb5c1920406dc4e51847b608.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Liêm trinh, Thiên tướng thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Liêm trinh, Thiên tướng thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Liêm trinh, Thiên tướng thủ mệnh

    Người có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt vuông tròn, cằm tròn. Thuở nhỏ có sắc mặt vàng trắng, trung niên và về già sắc mặt hồng vàng.
    Người có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ cung Mệnh có lông mày cao, trán rộng, mắt có thần, thường tỏ rõ là người thận trọng, cẩn thận. Người mà ở chỗ tam hợp của cung Mệnh không có các sát tinh như Dương nhẫn, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh tương chiếu là người lễ độ, biết tiến thoái, đa phần những người này làm trong lĩnh vực tài chính, quản lý. Vì là người trầm mặc, ít nói nên đôi với cấp dưới thường tỏ ra rất cao ngạo. Nếu người có sát tinh đồng cung hoặc tương chiếu ở cung Mệnh là người trầm mặc, giả dối, cũng thường tỏ ra cao ngạo. Người có sao đào hoa đồng cung hoặc tương chiếu là người hiếu sắc, thiếu đạo đức.
    Người có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ cung Mệnh, cung Mệnh có Liêm trinh hóa kỵ và Dương nhẫn đồng cung có thể khi sinh ra đã bị hỏ môi nên phải phẫu thuật nhiều lần.
    ***
    Người có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ cung Mệnh có thân hình tầm thước, hơi gầy. Một sô người sau 30 tuổi sẽ phát tướng. Mệnh nam cao từ 1m63 đến 1m78, mệnh nữ cao từ 1m58 đến 1m64.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ cung Mệnh chia làm 2 mẫu người, một mẫu người vạm vỡ, tráng kiện; một mẫu người khác lại hơi gầy, thanh thoát, tao nhã. Hai mẫu người này đều không ưa nói nhiều, lại có chút kiêu ngạo nhưng nhát gan. Người có khuôn mặt dài tròn đa phần thường làm quản lý hoặc kế toán, tài chính. Người có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ cung Mệnh có Dương nhẫn đồng cung hoặc tương chiếu thuộc cách cục “Hình tù giáp Ấn”. Họ có thân hình gầy gò, cằm nhọn, dễ vì sắc giới mà gặp chuyên kiện tụng.
    Người có nhiều sát tinh như Liêm trinh, hóa kỵ, Thiên tướng, Dương nhẫn, Hỏa tinh, Linh tinh đồng cung tọa thủ cung Mệnh sẽ có dị tật bẩm sinh hoặc hỏ môi, cần phải phẫu thuật nhiều lần.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406796466-z6993351779071_c3f4263985d918c5abe0b4891dcfcf81.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Liêm trinh, Thiên phủ thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Liêm trinh, Thiên phủ thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Liêm trinh, Thiên phủ thủ mệnh

    Người có Liêm trinh, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt hình dài tròn mà vuông, đặc biệt trán hoặc cằm sẽ rất vuông, lông mày cao, mắt có thần, tính cách khi thì kiên cường, khi lại mềm yếu, cương nhu bất nhất. Họ là người có dáng vẻ nghiêm túc, bình tĩnh, hơn nữa thường không ưa nói nhiều. Nhưng từ ánh mắt của họ mà đối phương có thể nhận thấy nội tâm và tư duy của họ đang có sự chuyển biến mãnh liệt. Họ cũng là người keo kiệt, bủn xỉn, ích kỷ. Chỉ cần qua cách nói chuyện đối phương cũng sẽ dễ dàng nhận ra bản chất của họ. Hơn nữa họ thường lợi dụng các mối quan hệ để đạt được mục đích của mình. Thủa nhỏ có sắc mặt xanh trắng, trung niên và về già lại có sắc mặt vàng xanh.
    ***
    Người có Liêm trinh, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh có thân hình tầm thước, hơi cao và gầy. Mệnh nam cao từ 1m67 đến 1m76, mệnh nữ cao từ 1m58 đến 1m66.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Liêm trinh, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh có thân hình tầm thước, hơi gầy. Họ thường không quá béo hoặc quá gầy, thường có khuôn mặt dài, mặt hình chữ “giáp”, cằm vuông, da dẻ trắng trẻo. Đa phần là người trầm tính, ít nói nhưng thích kết bạn. Họ thường có vẻ mặt nghiêm túc, ít cười, mắt to, thần sắc hiền hậu, cũng có đôi chút kiêu ngạo.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406689261-z6993344131953_a1b0ccd6efe771555f5dfb01d30c06e3.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Thiên cơ, Thiên lương thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Thiên cơ, Thiên lương thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Thiên cơ, Thiên lương thủ mệnh

    Người có Thiên cơ, Thiên lương tọa thủ cung Mệnh là người rất vui vẻ cởi mở, ăn nói lanh lợi, giỏi biện luận, khuôn mặt gầy, bản thân không trọng về của cải nhưng thích lao động kiếm tiền. Đa phần những người, có cung Thân lạc hãm ở cung Tài bạch xem tiền của như tính mệnh, rất vất vả.
    ***
    Người có Thiên cơ, Thiên lương tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt dài, gầy, mắt to, lanh lợi, đa mưu nhiều kế. Thuở nhỏ thường có sắc mặt vàng xanh, trung niên và về già lại có sắc mặt vàng sạm. Người này thường có miệng rộng, môi mỏng, hay nói và thường nói điều hay. Là người có nhiều mưu kế, tính toán nhưng lại không thích gánh vác trách nhiệm.
    ***
    Người có Thiên cơ, Thiên lương tọa thủ cung Mệnh thường có thân hình tầm thước, gầy gò. Mệnh nam thường cao 1m60 đến 1m67, mệnh nữ thường cao 1m53 đến 1m60.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Thiên cơ, Thiên lương tọa thủ cung Mệnh thường có hai gò má cao, xương quai hàm lộ. Thân hình hơi gầy, chân tay gân guốc. Họ là người trầm mặc, thông minh, lanh lợi, tư duy linh hoạt nhưng không thể hiện qua nét mặt nên người khác khó có thể đoán biết được. Nói chung, họ thuộc mẫu người nhanh nhẹn, tháo vát, tư duy linh hoạt, vẻ mặt trầm mặc nhưng hành động nhanh nhẹn. Họ hay đa nghi nên thường có những phán đoán sai lầm và thường tự coi mình thông minh hơn người.
    Người có Thiên cơ, Thiên lương tọa thủ cung Mệnh, lại thêm Dương nhẫn, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh đồng cung tọa thủ cung Mệnh, trên mặt tất sẽ có vết phá tướng, thân thể có nhiều thường tật. Hơn nữa họ lại là người gian trá, hay nói lời vô ích, thường hay lên mặt, lòng dạ nham hiểm. Người có hóa kỵ tọa thủ cung Mệnh, trên mặt có nhiều nốt ruồi, vết bớt nhỏ, không rõ ràng, tính tình cố chấp, nhút nhát.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406619644-z6993339423483_655c29502511aad199facc8a103a56f4.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Vũ khúc, Tham lang thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Vũ khúc, Tham lang thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Vũ khúc, Tham lang thủ mệnh

    Người có Vũ khúc, Tham lang tọa thủ cung Mệnh là người có khuôn mặt dài tròn mà vuông, cũng có người có khuôn mặt tròn mà hơi ngắn. Khi còn nhỏ sắc mặt trắng xanh, về già sắc mặt xanh vàng.
    Người có Vũ khúc, Tham lang tọa thủ cung Mệnh tính tình kiên cường, có chủ kiến, cơ thể tráng kiện, uy nghi, ít nói, bản tính keo kiệt, trọng chữ tín. Người này chỉ cần không có Dương nhẫn, Đà la, hóa kỵ tọa ở cung Mệnh hoặc tương chiếu ở cung đối diện, thì các mối quan hệ sẽ vô cùng tốt đẹp, một đời gặp nhiều thời vận phát tài; Bà Tống Mỹ Linh là người có Vũ khúc, Tham lang tọa thủ cung Mệnh.
    ***
    Người có Vũ khúc, Tham lang tọa thủ cung Mệnh có thân hình cao hơn người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh. Mệnh nam cao từ 1m70 đến 1m78, mệnh nữ cao từ 1m60 đến 1m70.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Vũ khúc, Tham lang tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt và chiều cao có chút khác biệt so với người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh. Trong đó, thân hình của hai mẫu người này, một mẫu người có thân hình cao lớn, tráng kiện; mẫu người kia lại hơi thấp, vạm vỡ, đầu tròn. Mẫu người cao lớn, tráng kiện đa phần ở cung. Mệnh có hóa lộc, hóa quyền đồng cung hoặc tương chiếu, có hóa kỵ, Dương nhẫn đồng cung, đồng thời họ thường hơi cao gầy. Mẫu người hơi thấp, vạm vỡ, đầu tròn, cần đề phòng Đà la, hóa kỵ đến xung phá. Trên mặt họ thường thể hiện vẻ mạnh mẽ, hào sảng. Nếu cung Mệnh không có các sát tinh như Dương nhẫn, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, hóa kỵ, Địa kiếp, Địa không đến xung chiếu là người khôi ngô, có học thức, cuộc đời gặp nhiều kỳ vận. Trên mặt họ cũng không có sẹo, bớt, nốt ruồi hoặc điểm phá tướng. Nếu họ hơi gầy hoặc trên mặt, trên cơ thể có bớt, nốt ruồi, sẹo hoặc tay chân có thương tật hoặc là người có sức khỏe kém thường là người có sát tinh, hóa kỵ tương chiếu. Một đời bình bình, không quá giàu có.
    Bà Tống Mỹ Linh là người có Vũ khúc, Tham lang tọa thủ cung Mệnh ở cung Sửu.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406473839-z6993328851757_b8b84e7f3a118d17b3366d95551f6ebb.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Thiên đồng thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Thiên đồng thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Thiên đồng thủ mệnh

    Người có cung Mệnh ở chỗ miếu vượng khá mập mạp đẫy đà, tọa thủ ở chỗ bình nhàn hay lạc hãm đều gầy. Tính cách ôn hòa, hiền từ, khiêm tốn, my thanh mày tú, không dễ nổi cáu nhưng sống tương đối ỷ lại, không có sức cạnh tranh, thích hưởng thụ, thích nũng nịu, đôi khi tính khí trẻ con.
    ***
    Người có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh là người có khuôn mặt dài, có một số người hơi béo, cằm tròn. Thuở nhỏ có sắc mặt trắng, trung niên và về già có sắc mặt vàng, thường có nước da trắng. Người có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh có tính tình ôn hòa, ít nổi nóng, thích thương lượng, bề ngoài có vẻ nhu nhược nhưng kỳ thực rất mạnh mẽ. Vì thế người này thường rất thận trọng, từ tốn. Ngũ quan cân đối, thanh tú.
    Người có Thiên đồng, Đà la đồng cung tọa thủ cung Mệnh thường mắt nhỏ, trán tròn, tính cách ôn hòa nhưng cổ quái.
    ***
    Người có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh đa phần có thân hình mập mạp, tráng kiện. Người có cung Mệnh miếu vượng sẽ càng mập mạp hơn và cũng cao hơn bình thường. Người có Thiên đồng lạc hãm có thân hình thấp hơn một chút nhưng cũng vẫn mập mạp. Người có Thiên đồng miếu vượng, mệnh nam thường cao từ 1m70 đến 1m76, mệnh nữ cao từ 1m60 đến 1m65. Thiên đồng tọa ở cung Mão hoặc cung Dậu thường có thân hình tầm thước, hơi cao. Mệnh nam cao khoảng 1m70, mệnh nữ cao khoảng 1m62. Người có Thiên đồng tọa ở cung Thìn, Tuất tương đổi thấp, mệnh nam cao từ 1m60 đến 1m65, mệnh nữ cao khoảng 1m55 đến 1m64.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Thiên đồng tọa ở cung Tỵ, Hợi có thân hình vạm vỡ, mập mạp. Người có cung Mệnh tọa ở cung Mão, Dậu có thân hình hơi thấp, đầy đặn nhưng đẹp đẽ, ưa nhìn. Người có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh ở cung Thìn, Tuất có thân hình tầm thước, trên mặt có nốt ruồi nhỏ, gặp nhiều thị phi.
    Người có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh đa phần đều có thái độ bình tĩnh, thận trọng, ít nói, thần sắc ôn hòa, nhẹ nhàng nên không làm mất lòng người khác. Đồng thời họ cũng có ngoại hình rất ưa nhìn, da dẻ trắng trẻo, tính cách tốt, thường không có chủ kiến, my thanh mày tú, cử chỉ tao nhã, không thô tục nên người khác rất quý mến.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406410860-z6993324363397_098f7ede77163d489f9a40ae25311877.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Vũ khúc, Thiên phủ thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Vũ khúc, Thiên phủ thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Vũ khúc, Thiên phủ thủ mệnh

    Người có Vũ khúc, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh thường có nước da trắng, khuôn mặt hình tròn vuông. So với người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh thì gò má và cằm người này đầy đặn hơn. Họ là người có sao chủ về tài khố và chính tài tọa thủ cung Mệnh vì thế thường thông minh, lanh lợi, cẩn trọng mà ngũ quan trên khuôn mặt lại cân đối nên thường tạo cho người đối diện cảm giác đáng tin cậy. Người có Vũ khúc, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh thường suy nghĩ thận trọng, thẳng thắn nhưng nhút nhát, keo kiệt, không ưa nói nhiều nên được nhiều người kính trọng.
    ***
    Người có Vũ khúc, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh thường có thân hình tầm thước, không cao. Mệnh nam cao từ 1m64 đến 1m75, mệnh nữ cao từ 1m58 đến 1m66.
    Đặc trưng ngoại hình: Người có Vũ khúc, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh có thân hình tầm thước, cường tráng, thon dài, không béo cũng không gầy. Ngoại hình nho nhã, thanh tao, nước da tương đối trắng trẻo. Họ là người có nguyên tắc, đa phần có cuộc sống sung túc cho nên thường rất chú trọng đến ngoại hình, thường dùng đồ cao cấp, chú trọng đến chất lượng cuộc sống, vì thế thường có vẻ bề ngoài đẹp đẽ sang trọng. Họ có tính tình ôn hòa nhưng cố chấp, mạnh mẽ và có chủ kiến nhưng lại hơi keo kiệt.
    Người có Vũ khúc, Thiên phủ tọa thủ cung Mệnh có hóa kỵ hoặc Dương nhẫn đồng cung thường có thân hình thô kệch hoặc không cao, gặp nhiều phiền não, thị phi, cũng thuộc cách cục “Hình tài”. Họ thường là người keo kiệt.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406329316-z6993318670842_3414204195adbb81c141faf278d217fb.jpg

    Kiến thức Tử vi

  • Tướng diện khi sao Thiên đồng, Cự môn thủ mệnh
    THANHTAMT THANHTAM

    Tướng diện khi sao Thiên đồng, Cự môn thủ mệnh

    Tướng diện khi sao Thiên đồng, Cự môn thủ mệnh

    Người có Thiên đồng, Cự môn tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt vuông ngắn, có người lại có cằm nhọn, trên mặt có tàn nhang và nốt nuốt hoặc có bớt. Đặc biệt người có Hỏa tinh đồng cung ở cung Mệnh, nhất định trên mặt sẽ có nốt ruồi lớn hoặc bớt đặc trưng, sắc mặt thủa nhỏ có màu vàng xanh, trung niên và về già có sắc mặt đen.
    Người có Thiên đồng, Cự môn tọa thủ cung Mệnh bề ngoài có vẻ ôn hòa, hay nói nhưng thực tế là người nóng vội, thiêu lễ độ, ham vui, thiếu trách nhiệm, thiếu sự quan tâm đến nghề nghiệp, thích hưởng thụ, gặp nhiều thị phi, cuộc sống tương đối tự do.
    ***
    Người có Thiên đồng, Cự môn lạc hãm tọa thủ cung Mệnh thường thân hình tầm thước, hơi gầy. Mệnh nam cao khoảng 1m60 đến 1m66, mệnh nữ cao khoảng 1m55 đến 1m60.
    Đặc trưng ngoại hình: Có khuôn mặt tròn vuông, trên mặt có nhiều nốt ruồi hoặc tàn nhang nhỏ, cũng có thể có vết bớt đặc trưng. Thủa nhỏ có nước da vàng xanh, sau 30 tuổi chuyển dần sang vàng đen.
    Người có Thiên đồng, Cự môn tọa thủ cung Mệnh thường thiếu trách nhiệm và không chuyên tâm cho sự nghiệp, họ ưa việc nhàn hạ, vui vẻ. Đa phần thường có tính tình ôn hòa, thích ăn quà và vì hay nói nên dễ chuốc thị phi.
    (Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

    1757406269437-z6993314378504_47eea7d211bd1efec168a7efcb6f203f.jpg

    Kiến thức Tử vi
  • Login

  • Don't have an account? Register

Powered by NodeBB Contributors
  • First post
    Last post
0
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • World
  • Users
  • Groups