Skip to content
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • World
  • Users
  • Groups
Skins
  • Light
  • Cerulean
  • Cosmo
  • Flatly
  • Journal
  • Litera
  • Lumen
  • Lux
  • Materia
  • Minty
  • Morph
  • Pulse
  • Sandstone
  • Simplex
  • Sketchy
  • Spacelab
  • United
  • Yeti
  • Zephyr
  • Dark
  • Cyborg
  • Darkly
  • Quartz
  • Slate
  • Solar
  • Superhero
  • Vapor

  • Default (No Skin)
  • No Skin
Collapse

NodeBB

bienhadongB

bienhadong

@bienhadong
Advisor
About
Posts
7
Topics
6
Shares
0
Groups
1
Followers
0
Following
0

Posts

Recent Best Controversial

  • Luận Bàn: Phong Thủy Nhà Ở
    bienhadongB bienhadong

    Phong Thủy Nhà Ở:

    ( Hà đông, 14/9/2025 )

    Tổng quan:

    Xin chia sẻ với quý vị những kiến thức được coi là " Càn khôn quốc bảo" có liên quan tới khoa Địa lý Dương Trạch.

    Từ sự đam mê đến sự tìm tòi nghiên cứu các sách kinh điển của Trung quốc và Việt Nam. Tôi nhận thấy rằng những kinh nghiệm quý báu mà cổ nhân lưu lại cho hậu thế, thật vô cùng trân quý, khó diễn tả hết được. Bộ môn Địa lý thật sự mang tính khoa học biện chứng, chuyên bàn luận những phạm trù liên quan tới Trời đất và con người. Giữa 3 yếu tố này luôn có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Do vậy chúng ta muốn biết phong thủy tốt xấu rao sao thì ta cứ dùng lý luận được thể hiện trên " Hà đồ, lạc thư" và thuyết âm dương, ngũ hành, tứ tượng, bát quái ..." Làm tấm gương chân lý.

    Phong Thủy Nhà Ở xin lưu ý 2 vấn đề sau:

    Đó là " Phong thủy nội cục " bên trong khuôn viên đất ở của ngôi nhà và " Phong thủy ngoại vi " bên ngoài cảnh quan và môi trường ngôi nhà sinh sống.

    Phần ngoại vi:

    Cổ nhân chủ yếu dựa vào Thiên tinh trên trời trú hình cho diện mạo núi non dưới đất để phán xét. Thông qua chòm sao Bắc đẩu ( có 7 ngôi sáng, 2 ngôi tối ), ta biết được núi non ấy thuộc tinh tú nào, có ngũ hành gì, sau đó ta đứng tại vị trí kiến thiết nhà ở, nhìn về 8 hướng và xem hình thế núi non đó thuộc tinh tú nào, hãy dùng học thuyết ngũ hành so sánh sự tương quan sinh khắc giữa " Sao và Cung vị bát quái nó ngự " để phán đoán kết quả ứng nghiệm sự việc. Đây là sự liên quan giữa trời và đất, giữ thiên tinh và địa lý. Ví dụ thấy núi hình dạng giống cây măng tre, giống ngọn bút thì đó là Tham lang mộc tinh, đây là văn tinh hiếm thấy. Nó ở hướng đông ( mộc ) là mộc nhập cung mộc. Đúng đất vượng tướng của nó. Hướng đông là quẻ chấn, ứng trưởng nam, văn tài xuất chúng. Đông nam tốn mộc thấy bút là trưởng nữ hơn người, nam nữ đều văn tài lỗi lạc. Thấy bút ở hướng khôn thổ tây nam, là mộc nhập cung thổ, bút kiện cáo, tịch thu điền sản, bất lợi nữ nhân. Thấy bút ở cung Cấn thổ đông bắc là thiếu nam trai út tật nguyền yểu mệnh, đó là sự ứng nghiệm của mộc khắc thổ vậy. Nếu như thấy núi hình kim tròn trịa, đây là Vũ khúc quyền tinh phát võ, ví như chiêng chống đánh trận, hay nhất xuất hiện ở hướng càn kim tây bắc thì quan cao chức trọng, ở hướng tây đoài Kim thì văn võ kiêm toàn, ngược lại thấy kim tinh tròn trịa ở hướng đông, là tượng kim nhập cung mộc khắc hại trưởng nam, tật nguyền hoặc chết trẻ, giữa tinh và cung cứ thế mà luận sẽ biết được hoạ phúc trong nhân gian.

    Xem tổng quan về vị trí địa lý khu vực nhà ở, nếu như đảm bảo yếu tố tứ thần bảo vệ đúng cách là đại cát. Phía sau có tống sơn, nhiều núi non gò đống làm tùy tùng, làm chỗ dựa là tốt, hai bên thấy hộ sơn tựa như rồng chầu hổ phục thì tốt, phía trước bằng phẳng không bị núi cao che khuất tầm nhìn, hoặc có nhiều gò đồi thấp nhô lên tựa như cúi lạy quy thuận mình là tốt.

    Sông ngòi thủy nhiễu bao quanh là tốt. Trăm sông nghìn núi quy tụ về là nơi vượng thủy vượng tài là tốt.

    Ngoài ra còn suy xét các yếu tố " Sông ngòi đến và đi ở cung nào là tốt hay xấu so với vị trí nhà ở. Lập cục và định 12 cung vị của vòng Trường sinh, thấy nước đến ở các cung như là Trường sinh, quan đới, lâm quan, đế vượng, thai, dưỡng là tốt, đến ở các cung mộc dục, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt là xấu.

    Dòng nước bên trái chảy thuận về trước nhà là tài danh như ý, nam nhân thịnh vượng. Bên phải nhà có dòng chảy về trước minh đường là nữ nhân tài giỏi, may mắn hơn nam nhân, thế nước này là tiền thịnh hậu suy, đàn bà chiếm ưu thế. Nếu nước chảy nghịch từ trước nhà ra sau nhà bên đầu hồi trái là nam nhân làm ăn liều lĩnh, bạo ngược, dù kiếm tiền nhanh chóng thì cũng không có hậu về sau. Ngược lại nước chảy nghịch bên đầu nhà tay phải thì nữ nhân lộng quyền, gia đình ly tán.

    Yếu tố ao hồ, nếu thấy trước nhà có ao là tụ tài, thịnh vượng, sau nhà có ao là kết cục đau thương. Yếu tố đường xá, đường là đạo lộ quanh nhà cũng cần có phép tắc, không nên xung phá trước mặt và 2 bên hông nhà, xá là nhà ở của láng giềng xung quanh, cũng cần có sự nghênh đón và bảo vệ nhau theo mô típ tứ thần thì tốt.

    Yếu tố gò đống, quan sát xem gò đống và các phiến đất nổi quanh nhà có hình dạng gì, thuộc ngũ hành gì đễ luận đoán tốt xấu. Ví như hình vuông thuộc thổ, tròn kim, tam giác hoả, con thoi mộc, méo mó tứ bề thủy, các hình dạng này đều ứng với cửu tinh trên trời là xét được cát hung của chúng. cảnh quan cây cối xung quanh phải thoáng đãng, có trật tự, cây to nên ở sau nhà, không nên có nhiều cây to trước nhà thì thuận...

    Tiếp tục phần: Phong thủy nội cục tối nay live stream nhé ace!

    Kiến thức phong thuỷ

  • Khái niệm về thuật ngữ phong thủy
    bienhadongB bienhadong

    Phong Thủy Nhà Ở:

    ( Hà đông, 14/9/2025 )

    Tổng quan:

    Xin chia sẻ với quý vị những kiến thức được coi là " Càn khôn quốc bảo" có liên quan tới khoa Địa lý Dương Trạch.

    Từ sự đam mê đến sự tìm tòi nghiên cứu các sách kinh điển của Trung quốc và Việt Nam. Tôi nhận thấy rằng những kinh nghiệm quý báu mà cổ nhân lưu lại cho hậu thế, thật vô cùng trân quý, khó diễn tả hết được. Bộ môn Địa lý thật sự mang tính khoa học biện chứng, chuyên bàn luận những phạm trù liên quan tới Trời đất và con người. Giữa 3 yếu tố này luôn có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Do vậy chúng ta muốn biết phong thủy tốt xấu rao sao thì ta cứ dùng lý luận được thể hiện trên " Hà đồ, lạc thư" và thuyết âm dương, ngũ hành, tứ tượng, bát quái ..." Làm tấm gương chân lý.

    Phong Thủy Nhà Ở xin lưu ý 2 vấn đề sau:

    Đó là " Phong thủy nội cục " bên trong khuôn viên đất ở của ngôi nhà và " Phong thủy ngoại vi " bên ngoài cảnh quan và môi trường ngôi nhà sinh sống.

    Phần ngoại vi:

    Cổ nhân chủ yếu dựa vào Thiên tinh trên trời trú hình cho diện mạo núi non dưới đất để phán xét. Thông qua chòm sao Bắc đẩu ( có 7 ngôi sáng, 2 ngôi tối ), ta biết được núi non ấy thuộc tinh tú nào, có ngũ hành gì, sau đó ta đứng tại vị trí kiến thiết nhà ở, nhìn về 8 hướng và xem hình thế núi non đó thuộc tinh tú nào, hãy dùng học thuyết ngũ hành so sánh sự tương quan sinh khắc giữa " Sao và Cung vị bát quái nó ngự " để phán đoán kết quả ứng nghiệm sự việc. Đây là sự liên quan giữa trời và đất, giữ thiên tinh và địa lý. Ví dụ thấy núi hình dạng giống cây măng tre, giống ngọn bút thì đó là Tham lang mộc tinh, đây là văn tinh hiếm thấy. Nó ở hướng đông ( mộc ) là mộc nhập cung mộc. Đúng đất vượng tướng của nó. Hướng đông là quẻ chấn, ứng trưởng nam, văn tài xuất chúng. Đông nam tốn mộc thấy bút là trưởng nữ hơn người, nam nữ đều văn tài lỗi lạc. Thấy bút ở hướng khôn thổ tây nam, là mộc nhập cung thổ, bút kiện cáo, tịch thu điền sản, bất lợi nữ nhân. Thấy bút ở cung Cấn thổ đông bắc là thiếu nam trai út tật nguyền yểu mệnh, đó là sự ứng nghiệm của mộc khắc thổ vậy. Nếu như thấy núi hình kim tròn trịa, đây là Vũ khúc quyền tinh phát võ, ví như chiêng chống đánh trận, hay nhất xuất hiện ở hướng càn kim tây bắc thì quan cao chức trọng, ở hướng tây đoài Kim thì văn võ kiêm toàn, ngược lại thấy kim tinh tròn trịa ở hướng đông, là tượng kim nhập cung mộc khắc hại trưởng nam, tật nguyền hoặc chết trẻ, giữa tinh và cung cứ thế mà luận sẽ biết được hoạ phúc trong nhân gian.

    Xem tổng quan về vị trí địa lý khu vực nhà ở, nếu như đảm bảo yếu tố tứ thần bảo vệ đúng cách là đại cát. Phía sau có tống sơn, nhiều núi non gò đống làm tùy tùng, làm chỗ dựa là tốt, hai bên thấy hộ sơn tựa như rồng chầu hổ phục thì tốt, phía trước bằng phẳng không bị núi cao che khuất tầm nhìn, hoặc có nhiều gò đồi thấp nhô lên tựa như cúi lạy quy thuận mình là tốt.

    Sông ngòi thủy nhiễu bao quanh là tốt. Trăm sông nghìn núi quy tụ về là nơi vượng thủy vượng tài là tốt.

    Ngoài ra còn suy xét các yếu tố " Sông ngòi đến và đi ở cung nào là tốt hay xấu so với vị trí nhà ở. Lập cục và định 12 cung vị của vòng Trường sinh, thấy nước đến ở các cung như là Trường sinh, quan đới, lâm quan, đế vượng, thai, dưỡng là tốt, đến ở các cung mộc dục, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt là xấu.

    Dòng nước bên trái chảy thuận về trước nhà là tài danh như ý, nam nhân thịnh vượng. Bên phải nhà có dòng chảy về trước minh đường là nữ nhân tài giỏi, may mắn hơn nam nhân, thế nước này là tiền thịnh hậu suy, đàn bà chiếm ưu thế. Nếu nước chảy nghịch từ trước nhà ra sau nhà bên đầu hồi trái là nam nhân làm ăn liều lĩnh, bạo ngược, dù kiếm tiền nhanh chóng thì cũng không có hậu về sau. Ngược lại nước chảy nghịch bên đầu nhà tay phải thì nữ nhân lộng quyền, gia đình ly tán.

    Yếu tố ao hồ, nếu thấy trước nhà có ao là tụ tài, thịnh vượng, sau nhà có ao là kết cục đau thương. Yếu tố đường xá, đường là đạo lộ quanh nhà cũng cần có phép tắc, không nên xung phá trước mặt và 2 bên hông nhà, xá là nhà ở của láng giềng xung quanh, cũng cần có sự nghênh đón và bảo vệ nhau theo mô típ tứ thần thì tốt.

    Yếu tố gò đống, quan sát xem gò đống và các phiến đất nổi quanh nhà có hình dạng gì, thuộc ngũ hành gì đễ luận đoán tốt xấu. Ví như hình vuông thuộc thổ, tròn kim, tam giác hoả, con thoi mộc, méo mó tứ bề thủy, các hình dạng này đều ứng với cửu tinh trên trời là xét được cát hung của chúng. cảnh quan cây cối xung quanh phải thoáng đãng, có trật tự, cây to nên ở sau nhà, không nên có nhiều cây to trước nhà thì thuận...

    Tiếp tục phần: Phong thủy nội cục tối nay live stream nhé ace!

    Kiến thức phong thuỷ

  • Phong Thủy Âm Trạch
    bienhadongB bienhadong

    Thầy Địa Lý Đặt Mả Phát 8 Đời Vua Nhà Lý ( Dị sử )

    Thế đất quần ngư tranh thực sinh vương.

    Tương truyền có con sông cổ tên là Bạch Lộ ( Cò trắng ), là chi lưu của sông Đáy chảy về sông Bẩy Giỏ ( được ghi chép vào thời vua Lê chúa Trịnh ) sau đó hợp lưu với sông Nhuệ rồi đổ ra sông Hồng. Vị trí giao thoa của các con sông có 1 bãi đất nổi hình con cá chép ( Lý Ngư ). Và được cả một bầy gò đống hình cá chép khác quây quần tranh ăn. Nên trong sách có ghi là Quần ngư tranh thực. Vị trí này thời xưa gọi là đất Tam lộ chi phận ( Yên Lộ, Do lộ, Nghĩa Lộ ) tạo thành ngã 3 sông, một nhánh chảy về cửu Khê và một nhánh chảy xuống sông Bẩy giỏ.

    Tương truyền rằng mẹ của vua Lý Công Uẩn sau này, do mắc bệnh hủi nên cả làng bắt cách ly và đuổi ra ngoài bãi sông hình con cá chép để mưu sinh. Bà sống bằng nghề đánh dậm rủi, bắt tôm tép ven sông. Vào một hôm trời mưa lớn có một thầy địa lý người Tầu đi tầm long điểm huyệt thì lại nhằm trúng cái lều của bà bị bệnh hủi đó để trú mưa. Tầm trưa rồi nên thầy rất đói bụng. Qua chào hỏi thì Bà hủi nói nếu ông không chê thì tôi có khoai trong lều và có niêu tôm niêu cá. Ông tự lấy ông ăn. Thầy địa lý để ý thấy bà này thực chất bị bệnh ghẻ nước chứ không phải bệnh phong cùi. Nên ông tốt bụng nói rằng, bệnh của bà có thể được chữa khỏi nếu như bà chịu khó lấy lá cây Lim mà tắm gội hàng ngày. Qua một thời gian sau Thầy địa lý lại qua bãi đất cá chép để xem lại phong thủy thì phát hiện bà đánh dậm rủi đã khỏi bệnh và trở nên xinh đẹp. Khi đấy mới thổ lộ rằng bà là người phúc hậu lại làm cái lều đúng vị trí mà tôi nhắm tới. Do vậy quả là đáng tiếc. Nếu như nhà bà đem mộ tổ tiên táng vào đây thì con cháu sau này xưng đế xưng vương. Bà hủi nói là tôi mồ côi cha mẹ, số tôi phải tha hương về đất này, may mới được bố mẹ nuôi cưu mang, hiện giờ không người thân thích. Không rõ nguồn gốc nên không biến mồ mả tổ tiên ở đâu mà tìm. Cho nên không có phúc để hưởng chỗ tốt này vậy. Thầy địa lý nói: vậy để hôm nào tôi đem chút bạc tới đưa bà lấy kinh phí chuyển lều chỗ khác, đất này bà nhường cho tôi. Bà hủi đương nhiên vui vẻ đồng ý mà không do dự. Bẵng đi một thời gian lại có trận mưa lớn, trên vùng thượng nguồn có một ông cũng sống bằng nghề đánh dậm rủi, không may bị nước cuốn trôi về bãi đất Cá chép ( Lý Ngư ). Muốn tìm chỗ trú mưa thì tới chiếc lều của bà hủi để nương tựa. Khi 2 người trò chuyện thấy số phận cùng cảnh ngộ, mồ côi khổ cực như nhau. Từ đấy ông thường qua lại thăm hỏi và mến thương nhau. Rồi một hôm lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Ông bà yêu thương nhau. Lần đầu tiên làm chuyện ấy thì thật không may ông bị " Phạm phòng " tức bị thượng mã phong mà mất trên bụng bà hủi. Bà thấy sợ quá rồi đẩy ông ra. Sau đó bỏ bãi bỏ làng đi biệt tới vùng Bắc Ninh làm ghề cấy lúa, gặt thuê, giã gạo thuê để mưu sinh.

    Không lâu sau ông thầy địa lý đem bạc tới chỗ lều thì phát hiện thấy có mối đùn thành một ngôi mộ lớn. Đây là hiện tượng thiên táng. Và thầy địa lý vào làng thông báo cho mọi người biết. Sự tình cứ ngỡ là bà đã chết trong cái lều ven sông rồi. Đó là sự hiểu lầm do không rõ nguyên nhân.

    Bà hủi thực chất vẫn sống nhưng không dám về quê nữa. Rồi cũng tới ngày bụng to vượt mặt và phải sinh nở. Cuối cùng Bà đã tìm đến cổng tam quan chùa Tiêu vùng Cổ pháp có sư Lý Vạn Hạnh tu hành.

    Câu chuyện lạ khi vua Lý Công Uẩn ra đời.

    Tương truyền rằng trước mấy ngày khi vua Lý Công Uẩn hạ sinh thì sư trụ trì trong chùa nằm mộng thấy Đức ông báo rằng: Ông phải bảo dân chúng quét rọn đương làng ngõ xóm sạch sẽ để đón vua giáng lâm vào ngày sóc. Sư y lời Đức ông trong chùa báo mộng mà khiến nhân dân làm theo. Nhưng ngày sóc đến rồi, cả làng ngóng trông đón vua tới tối mà vẫn chưa thấy tàn lọng và đoàn rước kiệu ở đâu. Do vậy lý trưởng mới nói là chắc Đức ông báo mộng không đúng rồi. Giờ thì về thôi, không đợi nữa. Sư Lý Vạn Hạnh cũng chán trường mà về chùa đặt lưng xuống nằm ngủ. Vừa chợp mắt một tí thì lại thấy Đức ông báo mộng là " Thiên tử giáng lâm rồi, ra tam quan mà đón " Sư hớt hả gọi các tiểu đèn đuốc mà ra tới tam quan thấy vắng heo, chả thấy bóng dáng ai. Bất chợt ngài nghe thấy tiếng khóc của trẻ nhỏ rồi đem đèn lại để xem xét, sau đó đưa hài nhi về chùa. Có thể là tiểu sử có uẩn khúc, hoặc mãi mới phát hiện ra cậu nhỏ nên Sư Lý Vạn Hạnh đặt tên cho cậu là Lý Công Uẩn, lấy họ của Ngài. Từ đó cậu nhỏ đi bú trực gái đẻ cả làng cho tới ngày cứng cáp. Cậu được sư dạy dỗ đạo nghĩa nho học, tư chất vốn thông minh nhưng rất nghịch ngợm. Có lần cả làng chuẩn bị gạo nếp nấu xôi oản từ hôm trước để hôm sau lễ phật. Nhưng Lý Công Uẩn lại láu lỉnh ăn oản trước phật trước thánh. Thể là đêm đến Đức ông lại báo mộng cho Thầy Vạn Hạnh là: Thiên tử ăn trước tôi". Tỉnh giấc đi kiểm tra thì thấy xôi oản vẫn còn nguyên không mất mát gì. Sau đó lại vào ngủ tiếp. Vừa chợp mắt thì Đức Ông lại báo mộng. Quả là ăn trước hết rồi. Thầy Vạn Hạnh lại dậy kiểm tra thì thấy còn nguyên. Nhưng tiểu của ngài lật lá mít dưới đít oản lên, phát hiện là cái nào cũng bị moi hết ruột, rồi lại gắn lá mít vào rất tinh vi. Vụ này Lý Công Uẩn bị ăn đòn và bị chói ở cột tam quan. Đêm bị muỗi đốt mới xuất thần làm bài thơ bất hủ.

    Thiên vi khâm chẩm địa vi chiên

    Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên

    Dạ thâm bất cảm tràng thân túc

    Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên

    ( Trời làm màn, đất làm mền

    Trăng gió cùng ta một giấc yên.

    Đêm khuya chẳng dám giang chân ruỗi. Chỉ sợ sơn hà xã tắc điên )

    Từ bài thơ này sư Lý Vạn Hạnh biết là sau này không phải người thường, từ đấy chuyên tâm dạy dỗ nhiều hơn. Về sau Lý Công Uẩn còn được gửi sang chùa khác học cùng các vị hoàng thân quốc thích của nhà tiền Lê do sư Lý Khánh Văn giáo thụ.

    Sau vụ bị đòn thì Lý Công Uẩn thù ghét tượng Đức ông trong chùa. Niền viết sau lưng tượng mấy chữ " Di tam thiên lý " có nghĩa muốn đuổi Đức ông đi 3 nghìn dặm. Thế là đêm đến sư Lý Vạn Hạnh nằm mộng thấy Đức ông Khăn gói từ biệt mà đi. Nói là thiên tử đuổi tôi đi 3 nghìn dặm. Bắt đầu hôm sau cả làng động, nhà cháy, trâu bò gà vịt lăn ra chết. Nhân dân đến chùa thì thấy tượng Đức ông chảy nước mắt. Sư Vạn Hạnh tìm mãi mới thấy sau lưng tượng có mấy chữ mà Lý Công Uẩn ghi.

    Về sau phải chính tay Lý Công Uẩn xoá đi thì cả làng mới hết tai hoạ.

    Phong Thuỷ

  • Nguồn Gốc Tam Dịch
    bienhadongB bienhadong

    Đầu năm khai bút định viết về những kiến thức thời xa xưa của cổ nhân nhưng do cơm áo gạo tiền nó làm lung lạc trí nhớ, câu cú lộn xộn không sao mà nói rõ ý được, vậy xin tạm chép một đoạn để chia sẽ với bằng hữu đôi chút kiến thức tản mát ấy:

    Năm mới viết về 3 loại sách Kinh Dịch - Sách của Tiên Rồng: Liên sơn dịch, Quy tàng dịch, chu dịch.

    Liên sơn dịch lấy quẻ cấn là núi làm tượng chủ, vì cuộc sống thời xa xưa ấy tổ tiên chúng ta vẫn còn sinh sống phụ thuộc vào núi rừng là chủ yếu. Quy tàng dịch lấy quẻ khôn là đất mềm làm tượng chủ vì khi đó tổ tiên của chúng ta từ trên núi xuống đồng bằng sông nước sinh sống, phát triển nông nghiệp. Về sau có vua Chu Văn Vương hoàn thiện những kiến thức trước đây của cổ nhân thì gọi là Chu dịch, lấy quẻ càn là trời làm tượng chủ. Giờ đây chúng ta thông qua Chu dịch để luận bàn vũ trụ, và các triết lý nhân sinh.

    Thời cổ đại Các vị sống ở trên núi thì gọi là " Tiên" (仙) chữ này được viết tượng hình bằng chữ nhân 人(người) đứng bên cạnh chữ sơn山 (núi). Liên sơn dịch phản ánh kiến thức và quan niệm sống của tổ tiên chúng ta thời bấy giờ. Hết thời này chuyển sang thời Cực Lạc có cụ Đế Hoà làm vua của cửu tộc. Rồi mới tới con trai của cụ là Phục Hy kế vị. Quy tàng dịch xuất hiện vào thời các vị vua thần nông là con cháu của Phục Hy xuống dưới đồng bằng sông nước khai phá mở mang bờ cõi, cấy cầy lúa nước. Quy tàng dịch lấy quẻ khôn là đất bằng làm chủ thể của xã hội, phản ánh đời sống của tổ tiên chúng ta từ trên núi xuống dưới đồng bằng sinh sống. Đất đai mầu mỡ, sông nước đa dạng có nhiều loài thuỷ tộc làm thức ăn, cấy trồng lục cốc để thu hoạch tích trữ nên đời sống ấm no phồn thịnh. Trang phục lấy vỏ cây bện lại thành khố, lấy lông chim làm trang trí trên đầu, vẫn sử dụng cung tên để săn bắn thú trên rừng, giáo mác làm vũ khí tiêu diệt thuỷ quái, giao long, trăn, rắn, cá sấu... để lấy thịt bổ sung thức ăn hàng ngày. Tượng con chim hạc làm lý tưởng sống, vì bản thân chim hạc tối bay về núi để ngủ, ngày xuống đồng bằng sông nước để kiếm ăn. Ngày nay chúng ta có câu: " Giá hạc quy tiên " nghĩa là người chết sẽ cưỡi hạc về với tổ tiên ở trên núi vì nguồn gốc tổ tiên của chúng ta từ trên núi xuống đồng bằng. Con chim hạc là loài sống ở cả trên núi lẫn dưới nước, vì thế là phương tiện đi lại thích hợp nhất của linh hồn khi ở thế giới bên kia, do vậy tổ tiên chúng ta đã có quan niệm về 2 thế giới âm dương từ rất lâu rồi. Các nơi thờ tự đều có biểu tượng chim hạc đứng trên lưng rùa để phản ánh gốc gác xa xưa của dân tộc Việt từ núi xuống nước rồi khi chết lại từ nước về núi. Bởi chúng ta là con của rồng dưới nước nhưng là cháu của tiên ở trên núi. Tức tiên có trước cả rồng.

    Kinh Dịch

  • Nguồn Gốc Của Kinh Dịch
    bienhadongB bienhadong

    Viết tiếp về Liên Sơn dịch, Quy Tàng Dịch, Chu Dịch:

    Sĩ tử thời xưa đi học thì đầu tiên là học sách Tam tự kinh để biết tổng quan về các kiến thức và tư tưởng xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử phát triển xã hội cũ. Nội dung trong đó có đoạn nói như sau để biết về 6 loại kinh sách, mà có nhắc tới 3 loại kinh dịch phổ biến thời xưa: " hiệu lục kinh, đương giảng cầu, hữu liên sơn, hữu quy tàng, hữu chu dịch, tam dịch tường, hữu điển mô, hữu huấn cáo, hữu thệ mệnh, thư chi áo..." ý nói : người học trò phải học hiểu lục kinh, trong đó có nói đến 3 loại kinh dịch đó là " Liên sơn dịch, quy tàng dịch và chu dịch". Vậy ta bàn đến từng loại sách này được xuất hiện vào giai đoạn nào của lịch sử:

    Thời Cực Lạc có Liên sơn Dịch thịnh hành do cụ Đế Hoà người phương nam là người hoàn thiện và phát triển nó tới tầm đỉnh cao của trí tuệ, khiến cho bao kẻ thống trị phương bắc phải tìm mọi cách đoạt lấy cho bằng được. Cụ Đế Hoà viết ra binh thư, binh pháp đánh trận, viết sách Thái ất để lại cho đời sau nên bọn giặc phương bắc gọi là sách của người " Lạc Việt" hay còn gọi là " Lạc Thư " . Do tổ tiên chúng ta vẫn còn sống trên núi trồng lúa nương và chưa xuống đồng bằng khai phá thì gọi là "Liên Sơn Dịch" tức 2 quẻ cấn là núi liền núi, hết thảy bao la vạn tượng của vũ trụ đều được thống kê ghi lại trong Lạc Thư. Liên Sơn Dịch là coi trọng tới tượng quẻ cấn và lấy núi non làm chủ thể chi phối các hoạt động của xã hội thời bấy giờ. Tới thời con trai của cụ Đế Hoà gọi là Phục Hy ( Phục 伏có nghĩa là nằm, Hy 稀nghĩa là cây đa, ý nói Ngài Phủ Phục dưới gốc cây đa để tu luyện, thực ra cụ họ Nguyễn, Phục Hy chỉ là cách gọi khác về cụ) thì lấy 8 quẻ tiên thiên bát quái để diễn giải mọi hành động của xã hội thời bấy giờ. Quẻ càn là cha, khôn là mẹ, chấn trưởng nam, tốn trưởng nữ, khảm trung nam, ly trung nữ, cấn thiếu nam đoài thiếu nữ. Đến thời con của Cụ Phục Hy là Đế Khôi thì Việt Nam ta có nhiều người tài xuất hiện vào giai đoạn này. Tiêu biểu là ngài Lão Long Cát, Hữu Sào, Toại Nhân đã kế thừa truyền thống tri thức của tổ tiên, do cụ Phục Hy truyền lại. Khi cụ Phục Hy mất thì con của ngài là Đế Khôi vẫn còn rất trẻ nên đã bị kẻ ngoại tộc tên là Hiên Viên tạo phản bắt đi và giết hại ngài bên Thiểm Tây ngày nay. Hiên Viên vì mục đích muốn học kinh thư của người Lạc Việt nên dùng khổ nhục kế muốn làm gia nô cho đế thất Phục Hy. Khi cụ Phục Hy mất là tạo phản rồi cướp kho sách quý đem đi và có bắt Đế Khôi làm con tin. Cụ phục Hy mất lấy phật hiệu là Di Đà vì thế ngày nay một số ngôi chùa ở Việt Nam mới có câu đối với nội dung như sau: "Phật hiệu di đà pháp giới tàng thân tuỳ xứ hiện. Quốc danh Cực Lạc thục quang chân cảnh cố trung huyền" tạm dịch nghĩa như sau: Phật hiệu là Di Đà, cõi phép giấu mình tuỳ nơi hiển hiện. Tên nước Cực Lạc sáng ngời cảnh thật, gốc gác quá diệu huyền.

    Quy tàng dịch là khi con cháu của cụ Đế Khôi xuống khai phá đồng bằng, dạy muôn dân cấy cầy lúa nước. Thời đại này các vị đế vương trị vì phương nam (tính từ bờ nam sông Dương Tử xuống phía nam) đều gọi là Đế Thần ( tức các vị Thần Nông) sự thay đổi về nơi sinh sống là một bước ngoặt lịch sử của tổ tiên chúng ta. Gốc gác vốn trên núi đi xuống đồng bằng là cuộc đông tiến vĩ đại, gây dựng nền móng lớn lao cho hơn 2 nghìn năm, trăm đời vua Hùng có dư về sau. Do xuống đồng bằng nên coi trọng sông nước, lấy quẻ khôn là đất mềm là nơi bình địa làm chủ thể của xã hội thời bấy giờ, đây là cách giải thích hợp lý về sự biến dịch của người Lạc Việt. Quy tàng dịch chính là hệ quy chiếu phản ánh nền văn minh lúa nước sâu sắc, khác biệt với cư dân bên bờ bắc của sông Dương tử, họ trồng cao nương và lúa mì, du mục di cư nên tản mát khắp nơi mà không tập trung nên không có điều kiện giao thoa huyết thống giữa họ này với họ kia. Họ dùng chính sách nội tộc hôn, anh em chú bác có thể ngủ với nhau và cận huyết thống. Họ không sống tập trung nên không có văn hoá lễ hội cộng đồng. Hơn nữa phương bắc khí hậu lạnh nên cây cối thưa thớt, thức ăn thiếu thốn mà chỉ dựa vào nguồn gia súc chăn nuôi mà tồn tại, do ít thức ăn nên phải di chuyển theo diện rộng mới kiếm đủ thức ăn để sinh sống. Họ không có quan niệm về thiên văn địa lý sâu sắc như cư dân phương nam. Chỉ sau giai đoạn này khoảng 3000 năm thì Tần Thuỷ Hoàng vượt Dương Tử đánh nước Sở ( gốc người Việt di cư sang khai phá đồng bằng) và thu phục Bách việt thì mới bị văn hoá phương nam trinh phục ngược lại họ. Họ bị văn hoá cộng đồng sâu sắc của người phương nam đánh bại họ. Họ dần dần theo phong tục người nam. Người Hán là cách gọi sau này khi Lưu Bang cùng Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ liên kết diệt Tần. Khi đó Hạng Vũ phong hầu cho Lưu Bang là Hán Vương và cho cai quản đất Hán Trung. Sau này Lưu Bang quay lại cắn Hạng Vũ và diệt nước Sở, tự phong mình là Hán Đế, con cháu của họ sau này gọi là Hán Cao Tổ. Dân tộc Hán có từ đây và là dân tộc có sau Bách Việt.

    Quay lại vấn đề quy tàng dịch. Bao nhiêu kinh nghiệm quý giá của tổ tiên người Việt tới cuối giai đoạn các vị vua Thần Nông thì phát triển đến đỉnh cao. Vào thời Cực Lạc Quốc có 9 họ gốc ban đầu ( Việt: Nguyễn Trần Dương Chu Vũ. Mường: Đinh Quách Bạch Hoàng) thì đến cuối thời kỳ các vị vua Thần Nông tiến hành chia ra hàng trăm họ. Lấy sản vật tiêu biểu của cư dân lúa nước đặt cho tên từng họ, ví dụ họ Lý là cây mận, Lê là cây dưa lê, Ngô là cây ngô, Đỗ là cây đậu, Dương là cây khế ( dương đào ), Phan là cây ổi ( phan thạch lựu ), Đào là cây đào, họ Đào thứ 2 là nghề gốm ( đào từ ), Lã là nghề đào giếng, Chu là nghề đóng thuyền bè, Phạm là nghề trồng cây thuốc...

    Vua Thần Nông cuối cùng của Việt Nam thời bấy giờ sinh hạ được 2 vị Đế Vương, gọi là Đế Tiết và Đế Thừa. Cụ đế Tiết 2 vợ ( địa mẫu ) nhưng không có con trai kế vị. Nhường ngôi cho cháu là con của em trai ( Đế Thừa )

    Đế Thừa cũng lấy 2 vợ ( địa mẫu ). Vợ cả ( chính thất ) sinh 2 trai sinh đôi : Nguyễn Minh Khiết ( Đế Minh ) Nguyễn Nghi Nhân ( Đế Nghi ). Cụ đế Nghi dẫn theo nhiều gia tộc tiến sang phương bắc lập ra nước Sở, hùng cứ một phương, gọi là bắc địa hầu tức ngài Bắc Đẩu.

    Vợ 2 ( thứ thất ) sinh ra Nguyễn Long Cảnh ( Nam Công Long ) hay còn gọi là Nam Tào.

    Cụ Đế Minh cai quản trung ương. 3 anh em là 3 vua nêm có chữ nho ghép 3 chữ vương này thành chữ quỷ. 3 vị này mở đầu cho giai đoạn Xích Quỷ Quốc, Xích là là Xích Đế, các vị vua cai trị phương nam. Quỷ là 3 chữ vương ghép thành mang ý nghĩa sâu sắc.

    Đế minh lấy bà Đỗ Đoan Trang là con gái của Thần Long Đỗ ( Đỗ Thương ). Đỗ Đoan Trang gọi là mẫu đệ nhất của Việt Nam thời bấy giờ. Ngài sinh hạ ra Nguyễn Quảng tự Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương. Cụ Nguyễn Quảng theo Đế Nghi tiến về phương bắc trinh chiến, đánh giặc Mô Mặc, cai quản 2 vùng đất giáp danh với Sông Dương Tử gọi là Kinh Châu và Dương Việt. Vua của Kinh Châu , Dương Việt thì gọi là " Kinh Châu Dương Việt Chi Vương, gọi tắt là Kinh Dương Vương.

    Kinh Dịch

  • Khái niệm về thuật ngữ phong thủy
    bienhadongB bienhadong

    Thuật ngữ phong thủy là gì?

    Tại sao thuật ngữ này lại là sự cô đọng tối giản để nói nên tầm quan trọng của gió và nước có ảnh hưởng tới sự sống của con người?

    Thông qua tìm hiểu về những quy luật mang tính khách quan của sự vật và hiện tượng trong vũ trụ cũng như môi trường tự nhiên có tác động qua lại với yếu tố con người. Cổ nhân đã đúc kết lại 2 yếu tố đó là Phong (gió), Thủy (nước) có ảnh hưởng biện chứng tới các mối quan hệ tổng thể của đời sống nhân loại.

    Vậy thì bộ môn Địa lý hay còn gọi là Kham Dư được chiêm nghiệm bằng nhiều con người trải qua nhiều đời cho thấy bản chất của vũ trụ, thực chất là sự phản ánh tổng quan về bao la vạn tượng trong nội hàm Trời - Đất và Người (Thiên - Địa - Nhân).

    Đây còn gọi là thuyết Tam Tài, 3 yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất và có quy trình vận động mang tính khách quan, bản thân chúng có sự tác động qua lại và liên đới, tương ứng lẫn nhau. Vì thế muốn hiểu biết về con người thì cần phải thông qua 2 yếu tố còn lại để suy xét.

    Và nội hàm thuật ngữ Phong Thủy cũng là một mảng được nghiên cứu nhằm để cải thiện nhân sinh quan và đem lại lợi ích rất thiết thực. Yếu tố Phong Thủy có sức ảnh hưởng quan trọng đối với con người là do sự đúc kết nhiều đời của những nhà minh triết, tuy nhiên những nội hàm khác có liên quan tới sự sống của con người cũng không kém phần quan trọng mang tính tổng hòa.


    Vậy thì ta cắt nghĩa từ "Phong Thủy" như sau:

    • Phong là gió, những nơi tàng phong kín gió là đất tốt, là bảo địa.

      Tại sao tàng phong lại là tốt mà những nơi phong gió bị suy tán lại không tốt, cổ nhân lý giải hiện tượng này qua đúc kết như sau:

    Nơi vị thế địa lý được núi non bao bọc che chắn không bị gió thổi thì được gọi là "tàng phong đắc địa", tức có Tống sơn làm tùy tùng phía sau, có Hộ sơn là long hổ bảo vệ 2 bên trái phải, đôi khi còn có nhiều tầng long hổ bảo vệ 2 bên lại càng quý. Phía trước có Nghênh sơn chào đón bái lạy, quy thuận, có Triều sơn ở khắp nơi theo về ủng hộ, có “tôn ti thế thứ” như trên dưới vua quan, văn võ, quần thần bái tướng, kim ngô, hộ pháp, thị thần... tạo thành thế tiền hô hậu ứng, chủ khách tương nghênh.

    Tuy là núi non mà cũng giống như con người thì quả là hiếm thấy.

    Tàng phong tức là khí ắt tụ lại, là bảo địa vậy.

    Kiến thức này là phần "Sa Pháp" được nhiều Thầy Địa Lý cho là rất quan trọng.


    Yếu tố nước trong phong thủy thì sao?

    Yếu tố này tồn tại như một thực thể khách quan với thực thể được coi là gió.

    • Nước vốn là vật chất hữu hình có thể nhìn thấy, nó có quan hệ biện chứng với vật chất vô hình là gió, giống như mối quan hệ biện chứng giữa khí và huyết trong cơ thể con người.

    Ta thông qua cái hữu hình để suy đoán về cái vô hình.

    Đối với các thầy địa lý, dựa vào nước để đoán về khí mạch.

    • Thủy thuận khí thuận, thủy nghịch khí nghịch
    • Thủy ngưng thì khí tụ
    • Thủy hoà hoãn chảy từ từ → ắt khí mạch cũng hoà hoãn như vậy
    • Thủy dừng thì khí cũng dừng

    Do vậy những nơi đất tốt có núi non yểm trợ, đồng thời cũng có nước quy tụ lại phía trước để chứng huyệt.

    Bản thân núi non là cái hình, còn nước là cái tinh hoa để nuôi dưỡng cái tú khí của núi non. Đối với thân thể con người, ta dựa vào khí huyết để nuôi dưỡng.


    Khi ta muốn biết về khí tồn tại trong cơ thể như thế nào thì thông qua huyết:

    • Khí vốn vô hình, huyết lại hữu hình
    • Khí thuận huyết thuận, khí nghịch huyết nghịch
    • Khí doanh thì huyết vệ, khí đầy đủ thì máu sung mãn rồi rào
    • Khí huyết tốt thì tướng mạo con người hồng hào khỏe mạnh
    • Cái tố chất bên trong đều toát ra cái ngoại hình vậy

    Đất cũng giống như cơ thể con người vậy.

    Thân xác thì có khí huyết là quan trọng, mà núi non như thân xác, phong và thủy quan trọng như khí huyết để nuôi dưỡng cơ thể vậy.

    Kiến thức phong thuỷ

  • Chòm sao Bắc đẩu là trung tâm của vũ trụ, là nguồn gốc của tất cả các môn huyền học
    bienhadongB bienhadong

    Giải Mã Về Khoa Chiêm Tinh Cổ Đại Và Các Sao Trong Khoa Tử Vi Tại Sao Lại Liên Quan Tới Số Mệnh Con Người.

    Theo quan điểm cổ xưa "Trời - Đất - Người" luôn có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, mật thiết, qua lại và ảnh hưởng tới nhau. Trời sao thì đất vậy và có sự liên đới tới con người.

    • Trên trời có "ngũ tinh"
    • Dưới đất có "ngũ nhạc"
    • Trong cơ thể con người có "ngũ tạng"

    Đây là 5 khái niệm đại diện tiêu biểu cho "Ngũ hành" bao gồm kim - mộc - thủy - hoả - thổ.

    Tức là trên trời tuy có rất nhiều ngôi sao nhưng bản chất của chúng chỉ có 5 dạng cơ bản tương ứng với "Ngũ hành". Dưới đất có vô vàn hình dạng của núi non nhưng cũng chỉ quy về 5 hình thế đặc trưng mà người ta gọi là "Ngũ nhạc". Còn trong cơ thể con người gồm có 5 tạng phủ chính điều tiết cơ thể thì người ta gọi là "Ngũ tạng".

    Vì thế khoa chiêm tinh cổ là thuật chiêm nghiệm các chòm sao trên trời nhưng nó lại có tính chất biện chứng với những gì ở dưới đất và trong cơ thể con người. Sau đó mới bàn đến các lý luận khác bao hàm tính Âm dương của vạn vật. Rồi tới tám tượng bát quái và chín cung trời.

    Bản chất của Âm dương là 2 mặt đối lập của 1 mệnh đề. Bản thân chúng có mối quan hệ biện chứng qua lại không thể tách rời nhau. Ví dụ các cặp mệnh đề cụ thể như:

    • Đực - Cái
    • To - Nhỏ
    • Cao - Thấp
    • Trên - Dưới
    • Béo - Gầy
    • Quý - Tiện
    • Sang - Hèn
    • Khôn - Dại

    Đại loại là chúng luôn tồn tại song hành và đối lập nhau về bản chất.

    Còn về chín cung trời thì sao?

    Đây là quan niệm cổ xưa cho rằng có 9 thế lực thần thánh kiểm soát cả "Vũ Trụ". Nói một cách theo quan điểm về "Chiêm tinh học" thì cổ nhân khi quan sát bầu trời đã phát hiện ra chòm sao "Bắc Đẩu" là trung tâm của cả Vũ Trụ. Chòm sao này có 7 ngôi rất sáng và 2 ngôi ẩn mờ, tổng là có 9 ngôi sao, và được người xưa ký hiệu nó thể hiện qua "Đồ hình Lạc thư". Mà về sau mới có truyền thuyết liên quan tới con "Long Mã" xuất hiện trên sông Hoàng Hà mang theo các ký hiệu này trên lưng.

    fdf7fd27-e8eb-4049-8542-af61eb3d9b4e-image.png

    Người Việt cổ xưa nhận thấy rằng chòm sao này là trung tâm của các chòm sao khác, đúng nghĩa hơn là trung tâm của Vũ Trụ: hình dạng của chòm sao này giống với cái gáo (hoặc cái gầu, cái khau) múc nước và dựa vào trạng thái đang múc nước hay đang tát nước để suy ra thời tiết mưa bão, trạng thái cao thấp của cái gáo múc nước có thể suy diễn ra lúc nào nước nhiều hay nước ít, khi nào mưa nhiều hay mưa ít và phối hợp chặt chẽ với nghề nông nghiệp.

    Cái cán gáo múc nước này quay tròn 360 độ trong 1 năm. Mỗi tháng chỉ vào 1 trong 12 cung con giáp từ Tý cho tới Hợi, tương ứng với 12 tháng và phương hướng.

    Theo lịch âm:

    • Tháng Giêng cán gáo chỉ vào cung Dần (chếch Đông Bắc)
    • Tháng 2: cung Mão (chính Đông)
    • Tháng 3: cung Thìn (chếch Đông Nam)
    • Tháng 4: cung Tị (Đông Nam chếch Nam)
    • Tháng 5: chính Nam
    • Tháng 8: chính Tây
    • Tháng 11: chính Bắc

    Vì thế người phương Tây có quan niệm về chòm sao Bắc Đẩu giống như cái kim La bàn hoặc kim đồng hồ để định thời gian và phương hướng.

    769c72c2-6fc0-4216-bbbe-50c16584ae23-image.png


    Cụ thể từng ngôi sao từ 1 đến 9 của chòm Bắc Đẩu (Thất tinh):

    1. Sao số 1: Tham Lang Mộc Tinh
      • Hình dạng: cây bút, cây măng tre dựng đứng, tháp Văn Xương → gọi là Văn tinh
      • Tượng trưng cơ thể: Lá gan
    2. Sao số 2: Cự Môn Thổ Tinh
      • Hình dạng: núi lớn vuông vức, bằng phẳng phần đỉnh, giống cái lều
      • Tượng trưng cơ thể: Dạ dày
    3. Sao số 3: Lộc Tồn Thổ Tinh
      • Hình dạng: núi nhỏ, giống gốc cây bị chặt, hình con dấu
      • Tượng trưng cơ thể: Lá nách
    4. Sao số 4: Văn Khúc Thủy Tinh
      • Hình dạng: núi nhấp nhô như sóng, như rắn bò → hình Thủy
      • Tượng trưng cơ thể: Thận
    5. Sao số 5: Liêm Trinh Hỏa Tinh
      • Hình dạng: nhiều ngọn núi chụm lại như đám lửa cháy, hình hỏa
      • Tượng trưng cơ thể: Trái tim
    6. Sao số 6: Vũ Khúc Kim Tinh
      • Hình dạng: núi tròn trịa, như cái chuông, cái bát úp
      • Tượng trưng cơ thể: Phổi
    7. Sao số 7: Phá Quân Hỏa Tinh
      • Hình dạng: núi nhỏ, ngọn chính bị lệch, giống ngựa phi → gọi là Thiên mã

      • Tượng trưng cơ thể: Đại Tiểu Trường (ruột)

      • Thầy Tả Ao có câu:

        Muốn cho con cháu nên quan, thì tìm Thiên mã phương nam chầu về,

        Muốn cho kế thế công hầu, thì tìm chiêng trống dàn chầu hai bên.

    8. Sao số 8: Tả Phù Mộc Tinh (ẩn diệu tinh)
      • Hình dạng: núi thấp nhỏ, không cụ thể
      • Tượng trưng cơ thể: Tạng phủ vô hình, phò tá khí mạch
    9. Sao số 9: Hữu Bật Thủy Tinh (ẩn diệu tinh)
      • Hình dạng: ụ đất khi nổi khi chìm, như rắn lươn ẩn trong bùn
      • Tượng trưng cơ thể: Chức năng vô hình như kinh huyết

    Kết luận:

    Các tinh tú trên trời có liên quan mật thiết tới khoa Tử Vi, dựa vào sự tương tác qua lại giữa chúng, người xưa có thể dự đoán số mệnh con người.

    Những dòng lý giải bên trên cũng là câu trả lời cho các độc giả về vấn đề này.Trân trọng!

    Kiến thức phong thuỷ
  • Login

  • Don't have an account? Register

Powered by NodeBB Contributors
  • First post
    Last post
0
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • World
  • Users
  • Groups