<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" version="2.0"><channel><title><![CDATA[Kinh Dịch]]></title><description><![CDATA[Kinh Dịch]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/category/9</link><generator>RSS for Node</generator><lastBuildDate>Sun, 05 Apr 2026 13:13:33 GMT</lastBuildDate><atom:link href="http://103.3.245.200:4567/category/9.rss" rel="self" type="application/rss+xml"/><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 14:15:11 GMT</pubDate><ttl>60</ttl><item><title><![CDATA[Học thuyết âm dương ngũ hành]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto"><strong>1. Học thuyết âm dương</strong></p>
<p dir="auto">Chúng ta đã bàn về học thuyết âm dương, vậy rốt cuộc thế nào gọi là âm, thế nào gọi là dương? Sự vật được chia thành hai loại, một loại trong hai loại này gọi là âm, một loại gọi là dương. Chúng ta phân chia như thế nào? Phàm là những gì tích cực, hướng thượng, nóng, sáng sủa, tiến bộ, vân vân, đều được gọi là dương.</p>
<p dir="auto">Phàm là những gì tiêu cực, lạc hậu, lạnh, tối tăm, thụt lùi, vân vân, đều được gọi là âm. Về phương diện con người, đàn ông được xếp vào dương, đàn bà được xếp vào âm.</p>
<p dir="auto">Có những thứ thuộc âm và dương không phải là tuyệt đối, có những thứ là tuyệt đối. Đàn ông và đàn bà chắc chắn là tuyệt đối, nhưng có những thứ lại là tương đối.</p>
<p dir="auto">Học thuyết âm dương có sáu hình thức biểu hiện, sáu hình thức biểu hiện này mọi người nhất định phải nắm vững:</p>
<p dir="auto">Thứ nhất, âm dương đối ứng; Thứ hai, âm dương hỗ căn;</p>
<p dir="auto">Thứ ba, âm dương tiêu trưởng;</p>
<p dir="auto">Thứ tư, âm dương chuyển hóa;</p>
<p dir="auto">Thứ năm, trong dương có âm, trong âm có dương;</p>
<p dir="auto">Thứ sáu, đồng tính tương xích, dị tính tương hấp.</p>
<p dir="auto">2. Học thuyết ngũ hành</p>
<p dir="auto">Học thuyết ngũ hành, "ngũ" đại diện cho năm loại vật chất, "hành" đại diện cho quy luật vận động biến hóa của sự vật. "Ngũ hành" là một danh từ phức hợp, nó được tạo thành từ sự kết hợp của một danh từ và một động từ thành một danh từ. Năm loại vật chất thủy, hỏa, mộc, kim, thổ.</p>
<p dir="auto">Trong ngũ hành có một điều quan trọng nhất là: sự trợ giúp của một loại ngũ hành đối với một loại ngũ hành khác, sự trợ giúp này gọi là tương sinh. Sự kiềm chế của một loại ngũ hành đối với một loại ngũ hành khác, sự kiềm chế này gọi là tương khắc. Ví dụ: do thủy có thể làm cho Chấn = Tốn E mộc sinh trưởng, điều này gọi là thủy sinh mộc, hoặc mộc được thủy sinh. Do có hỏa mà khắc chế kim loại, điều này là hỏa khắc kim. hoặc kim bị hỏa khắc.</p>
<p dir="auto">ST</p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/208/hoc-thuyet-am-duong-ngu-hanh</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/208/hoc-thuyet-am-duong-ngu-hanh</guid><dc:creator><![CDATA[NguyenGiang]]></dc:creator><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 14:15:11 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Ba tinh hoa lý luận lớn của Kinh Dịch]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Dịch lý của Kinh Dịch, lý luận của Kinh Dịch, không phải là vấn đề có thể nói rõ trong một câu. Lý luận của Kinh Dịch, nó là cách nói tương đối chi tiết. Nó có ba tinh hoa lý luận lớn. Ba tinh hoa lý luận lớn của Kinh Dịch là gì?</p>
<p dir="auto"><strong>1. Âm dương đối ứng thống nhất</strong></p>
<p dir="auto">Mọi sự vật đều tồn tại hai mặt âm dương, vừa đối ứng vừa thống nhất, hỗ căn hỗ hoán.</p>
<p dir="auto"><strong>2. Ngũ hành sinh khắc chế hóa</strong></p>
<p dir="auto">Quy tất cả vạn vật trong vũ trụ vào năm loại: Thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Sự biến hóa và vận hành của năm loại vật chất này, gọi chung là ngũ hành. Chúng sinh tồn lẫn nhau, chế ước lẫn nhau: kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim; kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa</p>
<p dir="auto">khắc kim.</p>
<p dir="auto">Bạn sẽ hỏi thầy: "Thầy, kim mộc thủy hỏa thổ, sao thầy lại sắp xếp thành thủy hỏa mộc kim thổ, cách nói không giống nhau." Mỗi một chữ của tôi đều phải chịu được sự chất vấn. Thứ tự sắp xếp của tôi khác, thủy hỏa mộc kim thổ, đây là "nhất lục tiên thiên thủy, nhị thất tiên thiên hỏa, tam bát tiên thiên mộc, tứ cửu tiên thiên kim, ngũ thập tiên thiên thổ." Là sắp xếp theo thứ tự này. Một hai ba bốn năm, mọi người đều biết ngũ hành, lát nữa chúng ta sẽ nói chi tiết về ngũ hành. Chúng sinh tồn lẫn nhau, chế ước lẫn nhau.</p>
<p dir="auto"><strong>3. Thiên nhân hợp nhất</strong></p>
<p dir="auto">Thiên nhân hợp nhất chỉ toàn tức luận về thông tin giữa con người và vũ trụ, bổ sung và điều hòa lẫn nhau.</p>
<p dir="auto">"Thiên nhân hợp nhất" là thứ chúng ta mọi lúc mọi nơi đều đang dùng. Nếu không phải là "thiên nhân hợp nhất", làm sao có thể nắm bắt một hành động của bạn, dùng một cái tên của bạn, dùng một mã số học viên của bạn, dùng một thời điểm mà có thể lập một quẻ, để phân tích cả cuộc đời của bạn? Tất cả những điều này đều là dựa theo "thiên nhân hợp nhất". Tại sao nói quái tượng chỉ là một vật mang? Nó mang thông tin của bạn chứa đựng trong quái tượng đó, sau đó bạn từ quái tượng để phân tích nó, tất cả đều có "thiên nhân hợp nhất". Đơn giản nhất, có những người dân thường (bao gồm cả chúng ta), mắt giật giật, giật rất mạnh, có phải là có chuyện gì không nhỉ? Có câu "trái giật tài, phải giật họa"; tại nóng ran lên, cho rằng người nhà hoặc bạn bè nào đó đang nhắc đến mình; hắt xì một cái, ôi trời, ai đang nhắc đến mình thế này. Có phải mọi người đều sẽ nói như vậy không? Đây chẳng phải chính là một "thiên nhân hợp nhất" hay sao? Đặc biệt là trong việc dự đoán một số hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, ví dụ như từ sự thay đổi của mây trên trời, nhìn thấy mây động đất, xem xét sự biến đổi của mây động đất, xem khi nào sẽ xảy ra động đất; xem xét một số tình trạng bất thường của động vật, có phải sắp xảy ra động đất không, đây đều là "thiên nhân hợp nhất". "Thiên nhân hợp nhất" là thứ chúng ta mọi lúc mọi nơi đều đang dùng. Hy vọng các bạn trong quá trình dự đoán sẽ vận dụng tốt hơn nữa "thiên nhân hợp nhất". Nó là tư duy cao cấp của Dịch học, là sự kết hợp và phản ứng của linh cảm từ tâm.</p>
<p dir="auto">ST</p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/207/ba-tinh-hoa-ly-luan-lon-cua-kinh-dich</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/207/ba-tinh-hoa-ly-luan-lon-cua-kinh-dich</guid><dc:creator><![CDATA[NguyenGiang]]></dc:creator><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 14:09:04 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Ba nguyên tắc lớn của Kinh Dịch]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Kinh Dịch có ba nguyên tắc lớn: bất dịch, biển dịch và giản</p>
<p dir="auto"><strong>1. Bất dịch</strong></p>
<p dir="auto">Vạn sự vạn vật trong trời đất tự nhiên, tuy rằng phức tạp đan xen, nhưng luôn ở trong trạng thái tương đối ổn định. Điều này là bởi vì hai sự vật ở trạng thái đối ứng tương tồn bên trong một sự vật, chúng tương đối ổn định. Đạo của Dịch tiết lộ tính quy luật về sự thống nhất đối ứng của mâu thuẫn trong sự vận động biến hóa của vạn sự vạn vật trong vũ trụ, qua đó biểu thị tính có thể nhận thức được của quá trình phát triển của vạn sự vạn vật trong vũ trụ.</p>
<p dir="auto">Từ khi bạn được mẹ sinh ra, cho đến khi kết thúc sinh mệnh, bạn chính là bạn, bạn sẽ không biến thành một cái bạn thứ hai, đây chính là bất dịch. Kê chính là kê, đại mạch chính là đại mạch, gạo chính là gạo, ngô chính là ngô, chúng không thể biến hóa, kê không thể biến thành ngô, không thể biến thành thứ khác, đây chính là bất dich.</p>
<p dir="auto"><strong>2. Biến dịch</strong></p>
<p dir="auto">Vạn sự vạn vật trong trời đất tự nhiên, cũng như nhân sự, luôn luôn ở trong sự biến hóa lẫn nhau, không bao giờ ngừng nghỉ. Ban đầu nói về bất dịch, tại sao bây giờ lại nói về biến dịch? Từ khi bạn còn là trẻ sơ sinh, cho đến khi bạn già đi, bạn xem bạn đã biến đổi lớn biết bao nhiêu. Từ một trẻ sơ sinh, bạn không ngừng biến hóa, mỗi ngày mỗi giờ mỗi khắc đều đang biến hóa. Do khoảng thời gian của sự biến hóa này rất nhỏ, chúng ta không nhìn thấy được những biến hóa tinh vi. Nếu một hai năm không gặp, sự biến hóa sẽ lớn. Ngày ngày giờ giờ ở bên nhau, không cảm thấy có sự biến hóa, nếu có một khoảng cách thời gian, sẽ cảm thấy biến hóa lớn. Sự vật đều đang biến hóa. Mỗi năm, cây trồng từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch, bạn xem lúa nước từ khi gieo mạ cấy lúa đến khi thu hoạch, nó chẳng phải đã biến hóa rất lớn sao? Cho nên, từng thời từng khắc cụ thể đều đang biến hóa. Đây là biến dịch. Mà chúng ta nghiên cứu Kinh Dịch, điều then chốt nhất chính là nghiên cứu kết quả của sự biến hóa. Thị trường chứng khoán vẫn là thị trường chứng khoán, nó không thay đổi, thị trường chứng khoán của nó sẽ không biến thành thị trường kỳ hạn, nó cũng không thể biến thành thị trường giao dịch ngoại hối. Thị trường chứng khoán chính là thị trường chứng khoán, tiến hành giao dịch chứng khoán. Nhưng thị trường chứng khoán từng thời từng khắc đều đang biến đổi, mà bạn đầu tư cổ phiếu chính là nắm bắt sự biến hóa của nó, mua vào ở mức giá thấp, bán ra ở mức giá cao, từ đó kiếm lợi nhuận chênh lệch. Cái chúng ta cần nắm bắt chính là sự biến hóa.</p>
<p dir="auto">Biến dịch là sự thay đổi bên trong và bên ngoài của bản thân sự vật.</p>
<p dir="auto"><strong>3. Giản dịch</strong></p>
<p dir="auto">Giản dịch (giản dị), có nghĩa là Dịch học sử dụng một phương pháp đơn giản nhất để nhận thức thế giới và sự vật. Quy luật tựnhiên của vũ trụ trời đất vốn dĩ là giản dị và dễ hiểu. Đạo của Dịch lớn thì nói đến thế giới vĩ mô của vũ trụ, nhỏ thì nói đến thế giới vi mô của hạt bụi, thể hiện tính khái quát và tính khả thi cao độ. Do đó, Dịch học dễ học, dễ biết, dễ theo, không hề bí ẩn.</p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/206/ba-nguyen-tac-lon-cua-kinh-dich</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/206/ba-nguyen-tac-lon-cua-kinh-dich</guid><dc:creator><![CDATA[NguyenGiang]]></dc:creator><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 14:07:35 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Bốn pháp báo lớn của Kinh Dịch]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Dịch học trải qua mấy ngàn năm có thể lưu truyền đến ngày nay, nó có bốn pháp bảo lớn.</p>
<p dir="auto">Pháp bảo của Kinh Dịch chính là "lý, tượng, số, chiêm". Dịch lý, Dịch tượng, Dịch số, Dịch chiêm.</p>
<p dir="auto"><strong>1. Dịch lý</strong></p>
<p dir="auto">Dịch lý của Kinh Dịch là gì? Dịch lý chính là triết lý của Kinh Dịch. Kinh Dịch bao trùm đạo của trời đất, không gì không bao hàm.</p>
<p dir="auto">Đây là những đạo lý và hiện tượng giữa trời đất mà Kinh Dịch nói đến, tất cả đều được bao hàm trong đó, không có gì bỏ sót. Bây giờ chúng ta nói về Dịch lý. Dịch lý nghiên cứu những nguyên lý về năng biển, sở biển và bất biến của vũ trụ và nhân sinh, đây là Dịch lý, triết lý của Kinh Dịch. Nó nói về đạo lý của cái có thể biến hóa, cái bị biến hóa, và cả cái không biến hóa.</p>
<p dir="auto"><strong>2. Dịch tượng</strong></p>
<p dir="auto">Dịch tượng, nó dùng quái tượng, hào tượng để biểu hiện muôn vàn hiện tượng sinh tồn, phát triển của thế giới, từ đó tìm ra nguyên tắc biến hóa của chúng. Đây chính là tượng của Kinh Dịch.</p>
<p dir="auto"><strong>3. Dịch số</strong></p>
<p dir="auto">Số của Kinh Dịch, là Hà Lạc lý số, là số lý của hiện tượng giới, suy diễn sự biến hóa của nó thì biết được nhân quả trước sau của nhân thế và vạn vật.</p>
<p dir="auto">Số là một loại quy luật của vận khí (vận mệnh), là quy luật biến hóa của vận động vật chất. Các số khác nhau thể hiện các trạng thái vận động và các cơ chế vận động khác nhau. Sự biến hóa của Số thể hiện sự phức tạp đan xen và sự thống nhất đối ứng của mâu thuẫn trong vũ trụ vạn vật. Tất cả các dự đoán của chúng ta, cuối cùng đều yêu cầu phải quy về số.</p>
<p dir="auto"><img src="/assets/uploads/files/1761054087163-anh-chup-man-hinh-2025-10-20-205922.png" alt="1761054087163-anh-chup-man-hinh-2025-10-20-205922.png" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/205/bon-phap-bao-lon-cua-kinh-dich</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/205/bon-phap-bao-lon-cua-kinh-dich</guid><dc:creator><![CDATA[NguyenGiang]]></dc:creator><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 13:41:37 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Tác dụng của việc học tập Kinh Dịch]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Học Kinh Dịch là học cái gì, cần phải làm rõ. Nó đã là kết tinh trí tuệ, là đứng đầu các kinh sách, nó có tác dụng gì, mà chúng ta phải học nó? Những thứ tốt đẹp thì quá nhiều, bạn học nó có tác dụng gì? Phải rõ ràng, học Kinh Dịch có hai tác dụng đối với con người: Điều thứ nhất, nhận thức luận; điều thứ hai, phương pháp luận.</p>
<p dir="auto">(1) Nhận thức luận</p>
<p dir="auto">Cái gì gọi là nhận thức luận? Chính là chúng ta đi tìm hiểu tất cả con người và sự vật cũng như vũ trụ, xã hội, tự nhiên, đi nhận thức nó, tìm hiểu nó, thì gọi là nhận thức luận.</p>
<p dir="auto">(2) Phương pháp luận</p>
<p dir="auto">Phương pháp luận là gì? Chúng ta cần dùng phương pháp của Dịch học (phương pháp rất nhiều, bạn học Kinh Dịch chắc chắn là dùng phương pháp của Dịch học), để xử lý mọi sự vật, khiến nó đạt được mục đích mà chúng ta hy vọng đạt tới, đó chính là phương pháp luận. Đây là phương pháp của Dịch học.</p>
<p dir="auto">ST</p>
<p dir="auto"><img src="/assets/uploads/files/1761051827882-anh-chup-man-hinh-2025-10-20-205922.png" alt="1761051827882-anh-chup-man-hinh-2025-10-20-205922.png" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/204/tac-dung-cua-viec-hoc-tap-kinh-dich</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/204/tac-dung-cua-viec-hoc-tap-kinh-dich</guid><dc:creator><![CDATA[NguyenGiang]]></dc:creator><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 13:04:35 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Kinh Dịch là gì?]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">1. Kinh Dịch là gì?</p>
<p dir="auto">Kinh Dịch là quần kinh chi thủ, Kinh Dịch là kết tinh trí tuệ của tiền nhân.</p>
<p dir="auto">Cái gì gọi là quần kinh? Các kinh sách "tứ thư ngũ kinh" thời cổ đại Trung Quốc, "tứ thư" tức là Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung; "ngũ kinh" là chỉ Kinh Thi, Kinh Thư, Lễ Ký, Chu Dịch, Xuân Thu, viết tắt là Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu. Các bạn học Trung văn biết điều này, thực ra vốn dĩ phải là lục kinh, còn có một bộ Kinh Nhạc. Trong tất cả các kinh sách, Kinh Dịch được xếp ở vị trí quan trọng nhất, cho nên được gọi là quần kinh chi thủ.</p>
<p dir="auto">Kinh Dịch là gì? Kinh Dịch là kết tinh trí tuệ của tiền nhân, nói về quy luật khách quan của vũ trụ. Bạn biết hai câu này là đủ rồi, những cái khác bạn có thể không cần nhớ nhiều. Nói nó là một bộ sách nông học cũng được, là một bộ thiên văn học, khoa học chính trị cũng được, đã nói rồi, nó là kết tinh trí tuệ, nó đã bao gồm tất cả các học vấn vào trong đó rồi.</p>
<p dir="auto"><img src="/assets/uploads/files/1761011994067-anh-chup-man-hinh-2025-10-20-205715.png" alt="1761011994067-anh-chup-man-hinh-2025-10-20-205715.png" class=" img-fluid img-markdown" /></p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/199/kinh-dich-la-gi</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/199/kinh-dich-la-gi</guid><dc:creator><![CDATA[NguyenGiang]]></dc:creator><pubDate>Tue, 21 Oct 2025 02:00:29 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Nguồn Gốc Tam Dịch]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Đầu năm khai bút định viết về những kiến thức thời xa xưa của cổ nhân nhưng do cơm áo gạo tiền nó làm lung lạc trí nhớ, câu cú lộn xộn không sao mà nói rõ ý được, vậy xin tạm chép một đoạn để chia sẽ với bằng hữu đôi chút kiến thức tản mát ấy:</p>
<p dir="auto">Năm mới viết về 3 loại sách Kinh Dịch - Sách của Tiên Rồng: Liên sơn dịch, Quy tàng dịch, chu dịch.</p>
<p dir="auto">Liên sơn dịch lấy quẻ cấn là núi làm tượng chủ, vì cuộc sống thời xa xưa ấy tổ tiên chúng ta vẫn còn sinh sống phụ thuộc vào núi rừng là chủ yếu. Quy tàng dịch lấy quẻ khôn là đất mềm làm tượng chủ vì khi đó tổ tiên của chúng ta từ trên núi xuống đồng bằng sông nước sinh sống, phát triển nông nghiệp. Về sau có vua Chu Văn Vương hoàn thiện những kiến thức trước đây của cổ nhân thì gọi là Chu dịch, lấy quẻ càn là trời làm tượng chủ. Giờ đây chúng ta thông qua Chu dịch để luận bàn vũ trụ, và các triết lý nhân sinh.</p>
<p dir="auto">Thời cổ đại Các vị sống ở trên núi thì gọi là " Tiên" (仙) chữ này được viết tượng hình bằng chữ nhân 人(người) đứng bên cạnh chữ sơn山 (núi). Liên sơn dịch phản ánh kiến thức và quan niệm sống của tổ tiên chúng ta thời bấy giờ. Hết thời này chuyển sang thời Cực Lạc có cụ Đế Hoà làm vua của cửu tộc. Rồi mới tới con trai của cụ là Phục Hy kế vị. Quy tàng dịch xuất hiện vào thời các vị vua thần nông là con cháu của Phục Hy xuống dưới đồng bằng sông nước khai phá mở mang bờ cõi, cấy cầy lúa nước. Quy tàng dịch lấy quẻ khôn là đất bằng làm chủ thể của xã hội, phản ánh đời sống của tổ tiên chúng ta từ trên núi xuống dưới đồng bằng sinh sống. Đất đai mầu mỡ, sông nước đa dạng có nhiều loài thuỷ tộc làm thức ăn, cấy trồng lục cốc để thu hoạch tích trữ nên đời sống ấm no phồn thịnh. Trang phục lấy vỏ cây bện lại thành khố, lấy lông chim làm trang trí trên đầu, vẫn sử dụng cung tên để săn bắn thú trên rừng, giáo mác làm vũ khí tiêu diệt thuỷ quái, giao long, trăn, rắn, cá sấu... để lấy thịt bổ sung thức ăn hàng ngày. Tượng con chim hạc làm lý tưởng sống, vì bản thân chim hạc tối bay về núi để ngủ, ngày xuống đồng bằng sông nước để kiếm ăn. Ngày nay chúng ta có câu: " Giá hạc quy tiên " nghĩa là người chết sẽ cưỡi hạc về với tổ tiên ở trên núi vì nguồn gốc tổ tiên của chúng ta từ trên núi xuống đồng bằng. Con chim hạc là loài sống ở cả trên núi lẫn dưới nước, vì thế là phương tiện đi lại thích hợp nhất của linh hồn khi ở thế giới bên kia, do vậy tổ tiên chúng ta đã có quan niệm về 2 thế giới âm dương từ rất lâu rồi. Các nơi thờ tự đều có biểu tượng chim hạc đứng trên lưng rùa để phản ánh gốc gác xa xưa của dân tộc Việt từ núi xuống nước rồi khi chết lại từ nước về núi. Bởi chúng ta là con của rồng dưới nước nhưng là cháu của tiên ở trên núi. Tức tiên có trước cả rồng.</p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/26/nguon-goc-tam-dich</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/26/nguon-goc-tam-dich</guid><dc:creator><![CDATA[bienhadong]]></dc:creator><pubDate>Fri, 25 Jul 2025 15:52:40 GMT</pubDate></item><item><title><![CDATA[Nguồn Gốc Của Kinh Dịch]]></title><description><![CDATA[<p dir="auto">Viết tiếp về Liên Sơn dịch, Quy Tàng Dịch, Chu Dịch:</p>
<p dir="auto">Sĩ tử thời xưa đi học thì đầu tiên là học sách Tam tự kinh để biết tổng quan về các kiến thức và tư tưởng xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử phát triển xã hội cũ. Nội dung trong đó có đoạn nói như sau để biết về 6 loại kinh sách, mà có nhắc tới 3 loại kinh dịch phổ biến thời xưa: " hiệu lục kinh, đương giảng cầu, hữu liên sơn, hữu quy tàng, hữu chu dịch, tam dịch tường, hữu điển mô, hữu huấn cáo, hữu thệ mệnh, thư chi áo..." ý nói : người học trò phải học hiểu lục kinh, trong đó có nói đến 3 loại kinh dịch đó là " Liên sơn dịch, quy tàng dịch và chu dịch". Vậy ta bàn đến từng loại sách này được xuất hiện vào giai đoạn nào của lịch sử:</p>
<p dir="auto">Thời Cực Lạc có Liên sơn Dịch thịnh hành do cụ Đế Hoà người phương nam là người hoàn thiện và phát triển nó tới tầm đỉnh cao của trí tuệ, khiến cho bao kẻ thống trị phương bắc phải tìm mọi cách đoạt lấy cho bằng được. Cụ Đế Hoà viết ra binh thư, binh pháp đánh trận, viết sách Thái ất để lại cho đời sau nên bọn giặc phương bắc gọi là sách của người " Lạc Việt" hay còn gọi là " Lạc Thư " . Do tổ tiên chúng ta vẫn còn sống trên núi trồng lúa nương và chưa xuống đồng bằng khai phá thì gọi là "Liên Sơn Dịch" tức 2 quẻ cấn là núi liền núi, hết thảy bao la vạn tượng của vũ trụ đều được thống kê ghi lại trong Lạc Thư. Liên Sơn Dịch là coi trọng tới tượng quẻ cấn và lấy núi non làm chủ thể chi phối các hoạt động của xã hội thời bấy giờ. Tới thời con trai của cụ Đế Hoà gọi là Phục Hy ( Phục 伏có nghĩa là nằm, Hy 稀nghĩa là cây đa, ý nói Ngài Phủ Phục dưới gốc cây đa để tu luyện, thực ra cụ họ Nguyễn, Phục Hy chỉ là cách gọi khác về cụ) thì lấy 8 quẻ tiên thiên bát quái để diễn giải mọi hành động của xã hội thời bấy giờ. Quẻ càn là cha, khôn là mẹ, chấn trưởng nam, tốn trưởng nữ, khảm trung nam, ly trung nữ, cấn thiếu nam đoài thiếu nữ. Đến thời con của Cụ Phục Hy là Đế Khôi thì Việt Nam ta có nhiều người tài xuất hiện vào giai đoạn này. Tiêu biểu là ngài Lão Long Cát, Hữu Sào, Toại Nhân đã kế thừa truyền thống tri thức của tổ tiên, do cụ Phục Hy truyền lại. Khi cụ Phục Hy mất thì con của ngài là Đế Khôi vẫn còn rất trẻ nên đã bị kẻ ngoại tộc tên là Hiên Viên tạo phản bắt đi và giết hại ngài bên Thiểm Tây ngày nay. Hiên Viên vì mục đích muốn học kinh thư của người Lạc Việt nên dùng khổ nhục kế muốn làm gia nô cho đế thất Phục Hy. Khi cụ Phục Hy mất là tạo phản rồi cướp kho sách quý đem đi và có bắt Đế Khôi làm con tin. Cụ phục Hy mất lấy phật hiệu là Di Đà vì thế ngày nay một số ngôi chùa ở Việt Nam mới có câu đối với nội dung như sau: "Phật hiệu di đà pháp giới tàng thân tuỳ xứ hiện. Quốc danh Cực Lạc thục quang chân cảnh cố trung huyền" tạm dịch nghĩa như sau: Phật hiệu là Di Đà, cõi phép giấu mình tuỳ nơi hiển hiện. Tên nước Cực Lạc sáng ngời cảnh thật, gốc gác quá diệu huyền.</p>
<p dir="auto">Quy tàng dịch là khi con cháu của cụ Đế Khôi xuống khai phá đồng bằng, dạy muôn dân cấy cầy lúa nước. Thời đại này các vị đế vương trị vì phương nam (tính từ bờ nam sông Dương Tử xuống phía nam) đều gọi là Đế Thần ( tức các vị Thần Nông) sự thay đổi về nơi sinh sống là một bước ngoặt lịch sử của tổ tiên chúng ta. Gốc gác vốn trên núi đi xuống đồng bằng là cuộc đông tiến vĩ đại, gây dựng nền móng lớn lao cho hơn 2 nghìn năm, trăm đời vua Hùng có dư về sau. Do xuống đồng bằng nên coi trọng sông nước, lấy quẻ khôn là đất mềm là nơi bình địa làm chủ thể của xã hội thời bấy giờ, đây là cách giải thích hợp lý về sự biến dịch của người Lạc Việt. Quy tàng dịch chính là hệ quy chiếu phản ánh nền văn minh lúa nước sâu sắc, khác biệt với cư dân bên bờ bắc của sông Dương tử, họ trồng cao nương và lúa mì, du mục di cư nên tản mát khắp nơi mà không tập trung nên không có điều kiện giao thoa huyết thống giữa họ này với họ kia. Họ dùng chính sách nội tộc hôn, anh em chú bác có thể ngủ với nhau và cận huyết thống. Họ không sống tập trung nên không có văn hoá lễ hội cộng đồng. Hơn nữa phương bắc khí hậu lạnh nên cây cối thưa thớt, thức ăn thiếu thốn mà chỉ dựa vào nguồn gia súc chăn nuôi mà tồn tại, do ít thức ăn nên phải di chuyển theo diện rộng mới kiếm đủ thức ăn để sinh sống. Họ không có quan niệm về thiên văn địa lý sâu sắc như cư dân phương nam. Chỉ sau giai đoạn này khoảng 3000 năm thì Tần Thuỷ Hoàng vượt Dương Tử đánh nước Sở ( gốc người Việt di cư sang khai phá đồng bằng) và thu phục Bách việt thì mới bị văn hoá phương nam trinh phục ngược lại họ. Họ bị văn hoá cộng đồng sâu sắc của người phương nam đánh bại họ. Họ dần dần theo phong tục người nam. Người Hán là cách gọi sau này khi Lưu Bang cùng Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ liên kết diệt Tần. Khi đó Hạng Vũ phong hầu cho Lưu Bang là Hán Vương và cho cai quản đất Hán Trung. Sau này Lưu Bang quay lại cắn Hạng Vũ và diệt nước Sở, tự phong mình là Hán Đế, con cháu của họ sau này gọi là Hán Cao Tổ. Dân tộc Hán có từ đây và là dân tộc có sau Bách Việt.</p>
<p dir="auto">Quay lại vấn đề quy tàng dịch. Bao nhiêu kinh nghiệm quý giá của tổ tiên người Việt tới cuối giai đoạn các vị vua Thần Nông thì phát triển đến đỉnh cao. Vào thời Cực Lạc Quốc có 9 họ gốc ban đầu ( Việt: Nguyễn Trần Dương Chu Vũ. Mường: Đinh Quách Bạch Hoàng) thì đến cuối thời kỳ các vị vua Thần Nông tiến hành chia ra hàng trăm họ. Lấy sản vật tiêu biểu của cư dân lúa nước đặt cho tên từng họ, ví dụ họ Lý là cây mận, Lê là cây dưa lê, Ngô là cây ngô, Đỗ là cây đậu, Dương là cây khế ( dương đào ), Phan là cây ổi ( phan thạch lựu ), Đào là cây đào, họ Đào thứ 2 là nghề gốm ( đào từ ), Lã là nghề đào giếng, Chu là nghề đóng thuyền bè, Phạm là nghề trồng cây thuốc...</p>
<p dir="auto">Vua Thần Nông cuối cùng của Việt Nam thời bấy giờ sinh hạ được 2 vị Đế Vương, gọi là Đế Tiết và Đế Thừa. Cụ đế Tiết 2 vợ ( địa mẫu ) nhưng không có con trai kế vị. Nhường ngôi cho cháu là con của em trai ( Đế Thừa )</p>
<p dir="auto">Đế Thừa cũng lấy 2 vợ ( địa mẫu ). Vợ cả ( chính thất ) sinh 2 trai sinh đôi : Nguyễn Minh Khiết ( Đế Minh ) Nguyễn Nghi Nhân ( Đế Nghi ). Cụ đế Nghi dẫn theo nhiều gia tộc tiến sang phương bắc lập ra nước Sở, hùng cứ một phương, gọi là bắc địa hầu tức ngài Bắc Đẩu.</p>
<p dir="auto">Vợ 2 ( thứ thất ) sinh ra Nguyễn Long Cảnh ( Nam Công Long ) hay còn gọi là Nam Tào.</p>
<p dir="auto">Cụ Đế Minh cai quản trung ương. 3 anh em là 3 vua nêm có chữ nho ghép 3 chữ vương này thành chữ quỷ. 3 vị này mở đầu cho giai đoạn Xích Quỷ Quốc, Xích là là Xích Đế, các vị vua cai trị phương nam. Quỷ là 3 chữ vương ghép thành mang ý nghĩa sâu sắc.</p>
<p dir="auto">Đế minh lấy bà Đỗ Đoan Trang là con gái của Thần Long Đỗ ( Đỗ Thương ). Đỗ Đoan Trang gọi là mẫu đệ nhất của Việt Nam thời bấy giờ. Ngài sinh hạ ra Nguyễn Quảng tự Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương. Cụ Nguyễn Quảng theo Đế Nghi tiến về phương bắc trinh chiến, đánh giặc Mô Mặc, cai quản 2 vùng đất giáp danh với Sông Dương Tử gọi là Kinh Châu và Dương Việt. Vua của Kinh Châu , Dương Việt thì gọi là " Kinh Châu Dương Việt Chi Vương, gọi tắt là Kinh Dương Vương.</p>
]]></description><link>http://103.3.245.200:4567/topic/25/nguon-goc-cua-kinh-dich</link><guid isPermaLink="true">http://103.3.245.200:4567/topic/25/nguon-goc-cua-kinh-dich</guid><dc:creator><![CDATA[bienhadong]]></dc:creator><pubDate>Fri, 25 Jul 2025 15:31:24 GMT</pubDate></item></channel></rss>